Post has attachment
Sự thật về BSC
Theo thống kê của Hiệp hội BSC Hoa Kỳ, hiện nay 65% trong số 1000 doanh nghiệp lớn nhất thế giới (qua bầu chọn của tạp chí Fortune) đã ứng dụng BSC (The Balanced Scorecard – Thẻ Điểm Cân Bằng) vào quản trị chiến lược.

Trong một cuộc nghiên cứu gần đây của Bain & Co (một trong những công ty tư vấn hàng đầu của Mỹ), kết quả cho thấy BSC là công cụ đứng thứ 5 trong top 10 công cụ quản trị được ứng dụng rộng rãi nhất trên thế giới; BSC cũng được tờ báo uy tín Harvard Business Review bình chọn là một trong những công cụ quản trị có tầm ảnh hưởng nhất trong vòng 75 năm qua; sau 21 năm phát triển kể từ năm 1990, BSC đã xuất hiện tại gần 100 quốc gia.

Vậy, lý do gì khiến BSC “lên ngôi” trong thế kỷ 21? Và, chính xác BSC là gì?

BSC được giới thiệu chính thức lần đầu tiên năm 1992 từ hai Tiến Sĩ người Mỹ Robert Kaplan và David Norton như là một công cụ có thể bổ sung các chỉ số đo lường phi tài chính vào chiến lược hoạt động của tổ chức, bên cạnh các chỉ số đo lường tài chính truyền thống, giúp cho hoạt động của tổ chức trở nên “cân bằng” hơn.

Định nghĩa về BSC không phức tạp và xa lạ nhưng thực sự các doanh nghiệp Việt Nam đều không hiểu thấu đáo về BSC, chính vì vậy, hầu hết các doanh nghiệp không ứng dụng hoặc ứng dụng nhưng không khai thác được giá trị thực sự của BSC.

Dưới đây là một góc nhìn phổ biến các doanh nghiệp Việt Nam về BSC, góc nhìn này chỉ phản ánh được phần ngọn của BSC một cách cơ bản và mang tính quản trị nhiều hơn là mang tính tầm nhìn dài hạn. Góc nhìn này vô tình biến BSC thành một công cụ KPI hơn là một công cụ quản trị và thực thi chiến lược hiệu quả nhất hiện nay. Góc nhìn này chỉ phản ảnh được phần cơ bản nhất của BSC và được diễn giải như sau: Doanh nghiệp được đánh giá tốt khi kết quả kinh doanh cuối cùng thể hiện các chỉ số tài chính tốt. Tuy nhiên, các chỉ số tài chính chỉ mang tính ngắn hạn, hệ quả, không miêu tả được diễn biến của quá trình, không dự báo được tương lai dài hạn, không phản ánh được các bước chiến lược. Lúc này, rủi ro tiềm ẩn nằm ở sự chưa hài lòng của khách hàng. Nếu doanh nghiệp có chỉ số tài chính tốt nhưng khách hàng không hài lòng thì chắc chắn ở năm kế tiếp, các chỉ số tài chính này sẽ sụt giảm. Trong trường hợp các chỉ số tài chính tốt và khách hàng hài lòng, doanh nghiệp theo thông thường sẽ có khuynh hướng mở rộng quy mô để phát triển. Điều này dẫn đến xuất hiện một nguy cơ khác là nếu quy trình và hệ thống không theo kịp tốc độ phát triển, doanh nghiệp lập tức đứng trước khả năng bị gãy quy trình – hệ thống và không kiểm soát được rủi ro. Hậu quả là khách hàng không hài lòng và tài chính đi xuống. Một viễn cảnh lý tưởng hơn, doanh nghiệp đã có tài chính tốt, khách hàng hài lòng và có được quy trình cùng hệ thống đáp ứng nhu cầu phát triển – điều kiện mơ ước đối mới mọi công ty thì doanh nghiệp vẫn đang đối mặt với cái chết dài hạn khác nữa bởi vẫn còn một yếu tố quan trọng cần đáp ứng. Đó là yếu tố nhân sự sẵn sàng thay thế. Nếu không đào tạo, tái lập được người lãnh đạo cùng đội ngũ kế thừa có đủ năng lực, đủ khả năng thay thế đển theo kịp chiến lược phát triển thì doanh nghiệp sẽ lại gặp khủng hoảng trong dài hạn.

Nếu BSC được hiểu như vậy thì không dễ gì mà khiến phát minh này có mặt tại 65% trong số 1000 doanh nghiệp hàng đầu thế giới. Ngoài những yếu tố cơ bản được nêu trên thì thực chất BSC là một công cụ thể hiện vai trò chiến lược rõ nét mà các công cụ khác không có:

1 BSC là một công cụ giúp xây dựng các mục tiêu và giải pháp chiến lược mang tính trọng tâm và tập trung gắn với lợi thế cạnh tranh của Doanh Nghiệp. Nói cách khác, BSC là các công cụ làm sắt bén chiến lược, giúp doanh nghiệp loại bỏ những mục tiêu và hành động thừa (“lean”).
Các hoạt động, công việc của nhân viên trước và sau khi áp dụng BSC. BSC giúp gắn kết công việc hằng ngày của mọi người trong tổ chức theo cùng một hướng với tầm nhìn và chiến lược của tổ chức

2 BSC là một hệ thống đo lường và quản trị chiến lược. Đây là một công cụ gắn kết giữa các kế hoạch thực thi với tầm nhìn của tổ chức.
BSC là công cụ kết nối giữa hành động với tầm nhìn của tổ chức. Từ tầm nhìn chúng ta xây dựng các chiến lược, từ chiến lược chúng ta phân bổ thành những mục tiêu. Từ mục tiêu, chúng ta cần có những hành động cụ thể của các bộ phận, nhân viên. Khi bánh răng hành động cụ thể (Action) của từng phòng ban và nhân viên lăn thì bánh răng mục đích (Strategy Objectives) lăn, dẫn đến bánh răng chiến lược (Strategy) lăn và tầm nhìn về đích. Tóm lại, BSC sẽ kết nối được giữa hành động, mục tiêu với tầm nhìn của doanh nghiệp

3 BSC là một hệ thống các đồng hồ được đặt đúng các vị trí để giám sát, đo lường các nhân tố – hoạt động quyết định doanh nghiệp có đạt được tầm nhìn hay không. Nói cách khác, nếu các yếu tố được các đồng hồ này đo lường không hoàn thành được thì tầm nhìn cũng sẽ không hoàn thành. Như vậy, việc xây dựng BSC có thành công hay không tùy thuộc vào đặt đồng hồ có đúng vị trí hay không. Từ việc đặt đồng hồ đúng sẽ có được giải pháp trọng tâm ngay tức thời để điều chỉnh các kế hoạch chiến lược trong tổ chức nhằm đạt được tầm nhìn trong tổ chức.
BSC là một hệ thống các đồng hồ đo lường xem nguồn lực có được sử dụng hiệu quả không, chiến lược đã đi đến đâu và hướng về đâu, khâu điều hành có ổn định không, kết quả kinh doanh như thế nào… Có thể nói BSC là công cụ đo quá trình chứ không phải là đo điểm đến

4 BSC là một công cụ nhằm định hướng chiến lược của doanh nghiệp theo chiều hướng cân bằng và bền vững qua bốn yếu tố tài chính, khách hàng, quy trình, con người. Không những thế, BSC có thể được điều chỉnh và mở rộng nhiều hơn bốn yếu tố trên, nhằm đạt được độ bền vững và cân bằng hơn. Hiện nay, các tổ chức đã điều chỉnh BSC và đo lường BSC nhiều hơn bốn khía cạnh nhằm cân bằng hơn, bền vững hơn và thích hợp hơn với từng tổ chức.

5 BSC là một công cụ phân khai chỉ tiêu và kết nối các phòng ban rất hiệu quả bởi vì thông qua việc phân khai trong BSC, tất cả các phòng ban và đơn vị của công ty đều thấy được mục tiêu chung, mục tiêu riêng và mức độ ảnh hưởng của mục tiêu phòng ban này đến mục tiêu phòng ban khác rất rõ ràng thông qua sơ đồ chiến lược. Ngoài ra, BSC là một công cụ truyền thông chiến lược biến chuyện chiến lược, tầm nhìn thành công việc của tất cả mọi người chứ không chỉ của cấp điều hành. Từ đó, tất cả nhân viên trong tổ chức tăng sự cam kết và thấy được vai trò, nhiệm vụ của mình quan trọng như thế nào đối với tổ chức trong việc thực thi mục tiêu.

6 BSC là một công cụ truyền thông chiến lược , giúp cho mọi người trong tổ chức từ các cấp quản lý đến nhân viên biết được tầm nhìn, chiến lược của tổ chức; qua đó biết được hướng hoạt động cũng như là những mục tiêu của tổ chức đó. Người nhân viên biết rằng họ có thể đóng góp cho sự thành công của tổ chức, từ đó các nhân viên sẽ đề ra những mục tiêu cụ thể và hành động theo cùng một hướng mục tiêu của tổ chức, tầm nhìn và chiến lược của tổ chức.


Photo

Post has attachment
Ứng dụng mô hình Thẻ điểm cân bằng (BSC): Nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp
(Tài chính) Doanh nghiệp sẽ phải làm gì để tận dụng và phát triển thế mạnh riêng có của mình trong bối cảnh cạnh tranh, khi mà những thước đo truyền thống được ứng dụng trong đánh giá thành quả hoạt động đã dần trở nên lạc hậu. Đáp ứng yêu cầu đó, hệ thống thẻ điểm cân bằng ra đời, giúp cho các doanh nghiệp định hướng tầm nhìn và chiến lược kinh doanh của mình thông qua bốn mục tiêu cơ bản: tài chính, khách hàng, nội bộ và học hỏi để phát triển.

Khái niệm thẻ điểm cân bằng

Thẻ điểm cân bằng (BSC) là phương pháp quản lý hiện đại dựa trên mục tiêu, theo đó định hướng phát triển của doanh nghiệp (DN) được thể hiện bằng các chỉ tiêu. Các mục tiêu được tổ chức được xây dựng một cách hài hòa, cân đối dựa trên các ưu tiên quan trọng của tổ chức, DN. Vào đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, Học viện Nolan Norton, bộ phận nghiên cứu của KPMG bảo trợ cho một cuộc nghiên cứu đa công ty trong thời gian một năm với đề tài “Đo lường hiệu suất hoạt động của tổ chức trong tương lai”. Các thành viên định kỳ gặp gỡ nhau hai tháng một lần nhằm phát triển một mô hình đo lường hiệu quả hoạt động mới. Từ đó thuật ngữ BSC ra đời.

Hệ thống này giúp định hướng hành vi của toàn bộ các hệ thống trong công ty, giúp mọi người cùng hướng tới mục tiêu chung cũng như sự phát triển bền vững của DN và làm cơ sở cho hệ thống quản lý và đánh giá công việc.

Nội dung của BSC

BSC gồm bốn phương diện cơ bản: Phương diện tài chính, phương diện khách hàng, quy trình hoạt động kinh doanh nội bộ, học hỏi và phát triển.

(i) Phương diện tài chính, mô hình quản lý nhấn mạnh nhà quản trị phải coi doanh thu, lợi nhuận là mục tiêu quan trọng, các chỉ tiêu sinh lời của vốn, tài sản đạt mức cao;

(ii) Phương diện khách hàng, mô hình nhấn mạnh nhà quản trị phải quan tâm đến quyền lợi khách hàng sau khi sử dụng sản phẩm của DN và phải thực hiện tôn chỉ coi khách hàng là “Thượng đế ”;

(iii) Phương diện nội bộ, mô hình nhấn mạnh nhà quản trị phải biết khai thác và sử dụng sức mạnh, trí tuệ của cán bộ công nhân, các sáng kiến khoa học trong sản xuất tạo ta sản phẩm có chất lượng cao;

(iv) Phương diện học tập và phát triển, mô hình nhấn mạnh nhà quản trị và toàn bộ cán bộ, nhân viên thường xuyên phải học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn nhằm giúp DN đạt được các mục tiêu của mô hình.

Vai trò BSC trong quản trị DN:

- Hệ thống đo lường: Những phép đo tài chính cho thấy rất rõ những gì đã xảy ra trong quá khứ nhưng lại không phù hợp với việc nhấn mạnh vào cách thức tạo giá trị thực của tổ chức. Chúng ta có thể gọi các phép đo tài chính là những "chỉ số trễ". Tất cả các phép đo trong BSC được hiểu như là việc làm rõ chiến lược của tổ chức.

- Hệ thống quản lý chiến lược: Ban đầu, BSC chỉ là hệ thống các phép đo, cân bằng và làm rõ hơn các chỉ số tài chính để đo hiệu quả của DN, đo hiệu quả của các chiến lược đã đặt ra từ trước. Tuy nhiên, ngày càng nhiều tổ chức áp dụng BSC như là công cụ để gắn kết các hoạt động ngắn hạn với chiến lược của công ty.

- Công cụ giúp vượt qua rào cản định hướng: Bằng cách giải thích các chiến lược, BSC được đưa ra với ý tưởng là chia sẻ những hiểu biết và chuyển chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu, phép đo và những chỉ tiêu cụ thể và thể hiện trong mỗi khía cạnh của nó. Việc giải thích định hướng chiến lược yêu cầu nhóm thực hiện BSC phải xác định cụ thể những gì còn mập mờ, mơ hồ trong định hướng chiến lược của tổ chức nhằm hướng dẫn tất cả mọi người hướng tới việc đạt được những định hướng đã được công bố.

- Phương tiện truyền đạt thông tin trong nội bộ DN: Để chiến lược có thể được thực hiện thành công thì bản thân chiến lược cần phải được hiểu rõ và được thực hiện tại mọi cấp của tổ chức. BSC được đưa đến mọi bộ phận, phòng ban của tổ chức và tạo cho người lao động có cơ hội để liên hệ giữa công việc hàng ngày của họ với chiến lược của toàn tổ chức. Hơn nữa, BSC còn cung cấp các luồng thông tin phản hồi ngược từ cấp cơ sở lên ban điều hành, tạo điều kiện cập nhật thông tin liên tục cho việc thực thi chiến lược...

- Chiến lược cung cấp nguồn lực: Khi chưa xây dựng BSC, hầu hết các công ty đều có quá trình hoạch định chiến lược và hoạch định ngân sách riêng biệt. Khi xây dựng BSC, chúng ta đã tạo điều kiện để các quá trình này gắn kết với nhau: BSC không chỉ xây dựng các mục tiêu, chỉ số đo lường, từng chỉ tiêu cụ thể cho bốn khía cạnh mà còn xem xét một cách cẩn thận các ý tưởng và các kế hoạch hành động sẽ phục vụ cho mục tiêu đó. Tất cả các chi phí cần thiết, hiệu quả đạt được của từng mục tiêu cụ thể phải được trình bày rõ ràng trong các văn bản và được đưa ra xem xét.

- Chiến lược học hỏi để khắc phục rào cản về quản lý: BSC cung cấp các yếu tố cần thiết để đưa ra mô hình mới, trong đó các kết quả của thẻ điểm trở thành yếu tố đầu vào cho việc xem xét, đặt vấn đề và nghiên cứu về chiến lược. BSC chuyển chiến lược và tầm nhìn thành một loạt các phép đo có liên kết chặt chẽ với nhau. Qua đó, DN có nhiều thông tin hơn so với các thông tin trình bày trong báo cáo tài chính. Khi xem xét toàn bộ các mối liên hệ mật thiết, kết quả của việc đo lường hiệu quả của thẻ điểm mô tả rõ ràng chiến lược đến từng chi tiết nhỏ và tạo cơ sở cho việc đặt câu hỏi liệu kết quả thu được liệu có đưa DN tới gần việc đạt được chiến lược hay không và khi có bất cứ biến động gì, DN biết ngay ảnh hưởng của nó ở đâu, cách khắc phục.

- Công cụ trao đổi thông tin: Trao đổi thông tin ở đây bao gồm hai chiều: từ phía nhà quản lý tới người lao động và ngược lại. Chia sẻ kết quả của BSC trong tổ chức giúp người lao động có cơ hội thảo luận về những giả định trong chiến lược, học hỏi và rút kinh nghiệm từ những kết quả không mong muốn, trao đổi về những thay đổi cần thiết trong tương lai. Hiểu chiến lược của DN có thể mở ra những khả năng tiềm tàng, có thể lần đầu tiên được biết tổ chức đang ở đâu và họ sẽ đóng góp như thế nào.
Ứng dụng mô hình BSC trong quản trị DN:

- Lập kế hoạch chiến lược: Bốn khía cạnh của thẻ điểm cân bằng phải được giữ cùng với nhau, hoạt động một cách độc lập hướng đến mục tiêu chung của toàn thể công ty. Việc liên kết thẻ điểm với chiến lược của công ty bao hàm ba nguyên tắc:

(1) Những mối quan hệ nguyên nhân - kết quả.

(2) Những người hướng dẫn thực hiện.

(3) Mối liên hệ với tài chính.

Ba yếu tố này, mặc dù tách biệt nhau, nhưng phải được xem xét cùng nhau khi định hình một BSC.

- Liên kết cấu trúc và chiến lược của DN: Cấu trúc và chiến lược của một DN phải được phản ánh trong BSC. Không thể nào một tổ chức gồm những đơn vị kinh doanh chiến lược mà những đơn vị này có BSC riêng của nó, và những BSC riêng này không thể kết hợp lại với nhau để trở thành một BSC lớn hơn. Trong trường hợp đó, toàn bộ sự hoạt động của tổ chức thường đưa ra những đánh giá về những bản điểm riêng đang hoạt động hiệu quả như thế nào. Nhà quản trị nên đưa ra những chủ đề chung hay chiến lược có thể dàn trải trên tất cả các đơn vị kinh doanh. Khi điều này xảy ra, vai trò của BSC lớn sẽ giám sát và đánh giá chúng có hiệu quả như thế nào trong việc đạt đến chiến lược chung.

- Xác định rõ mục tiêu và thiết lập ngân sách phân bổ tài nguyên: Việc tổ chức quản lý để một tổ chức hướng đến một mục tiêu chung là vô cùng quan trọng, nhưng nó phải được kết hợp với những mục tiêu hữu hình của quá trình kinh doanh. Quá trình kinh doanh phải điều chỉnh những nguồn lực vật chất và tài chính với chiến lược. Có bốn bước để đạt được kế hoạch chiến lược tầm xa và quá trình dự thảo ngân sách hoạt động.

Một là, phải thiết lập những mục tiêu tầm xa. Những mục tiêu có nhiều tham vọng phải được xác lập để đánh giá mà mọi nhân công có thể chấp nhận;

Hai là, xác định và hợp lý hóa những sáng kiến mang tính chiến lược. Ý tưởng ở đây là điểu chỉnh những sáng kiến với những mục tiêu về thẻ điểm;

Ba là, xác định những mục tiêu liên đới trong hoạt động kinh doanh. Điều này được thiết kế để mang sự cái tiến vào việc điều chỉnh, phân bổ các yếu tố mà bao hàm những đơn vị kinh doanh hay toàn thể công ty mẹ với những mục tiêu về thẻ cân bằng;

Bốn là, việc liên kết những kế hoạch dài hạn (từ 3 đến 5 năm) với những hoạt động ngân sách để có thể so sánh biểu hiện với những kế hoạch chiến lược. chúng cho phép tầm nhìn của BSC trở nên thực tế.

- Đánh giá trách nhiệm nhân viên: Đánh giá thành tích của nhân viên thông qua việc phân tích các chỉ tiêu, so sánh với chi phí thực hiện, ngân sách thực hiện, đánh giá khả năng hoàn thành công việc của nhân viên. BSC đánh giá thành quả hoạt động kinh doanh của các nhân viên, bộ phận ứng với các trách nhiệm đã giao cho nhân viên. Đây là quá trình đánh giá các trung tâm trách nhiệm trong DN.

- Lập báo cáo của BSC gắn với các mục tiêu đặt ra ban đầu của DN: Các báo cáo của phương pháp BSC chỉ ra mối quan hệ giữa bảng cân đối các chỉ tiêu thực hiện và bảng kế hoạch phương hướng hoạt động của DN.

- Ứng dụng phần mềm quản lý theo mô hình BSC: Hiện nay có hai phần mềm được ứng dụng rộng rãi giúp các DN, tổ chức quản trị theo mô hình Balanced Scorecard; Phần mềm nước ngoài: QuickScore Performance Information System và phần mềm PROVIEW KPITM do Công ty Cổ phần Proview, giúp các ngân hàng, các công ty tài chính, các DN, tập đoàn, tổ chức đo lường, quản lý hiệu quả và thành công theo mô hình BSC.

Kết luận

Ứng dụng BSC trong quản trị DN sẽ giúp nhà quản trị xác định các dự án, hành động ưu tiên giúp hiện thực hóa chiến lược. Qua các chỉ số đo hiệu quả về bốn yếu tố được báo cáo định kỳ, thường xuyên giúp cán bộ lãnh đạo được cảnh báo sớm và có quyết định chính xác, kịp thời hơn. Công cụ này cũng làm rõ mối liên kết giữa các mảng hoạt động trong tổ chức với chiến lược. Qua đó mỗi nhân viên hiểu rõ hơn vị trí và vai trò của mình trong chiến lược, để tăng cường động lực đóng góp cho DN.

Tài liệu tham khảo:

1. Phạm Văn Dược, Phạm Xuân Thành, Trần Phước, Trần Văn Tùng (2010)- Mô hình báo cáo đánh giá trách nhiệm quản trị công ty niêm yết - Nhà xuất bản Phương Đông;

2. R.S. Kaplan(1996), Balanced Scorecard - Harvard Business School Press "Texas Eastman Company," Harvard Business School;

3. Nguyễn Ngọc Quang (2013) - Vận dụng mô hình Bảng cân bằng điểm trong kế toán quản trị để nâng cao hiệu quả hoạt động cho các DN Việt Nam - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Photo
Wait while more posts are being loaded