Post has shared content


Vào nhà, vào thành phố

Khi ấy, Chúa Giêsu chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. Người bảo các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Ðừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này!” Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đến đậu trên người ấy; bằng không, thì bình an đó sẽ quay về với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Ðừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.”

Suy niệm:

Dân số Châu Á chiếm gần hai phần ba thế giới

nhưng số người nhận biết Chúa chưa tới 3%.

Cánh đồng lúa chín mênh mông đang cần thợ gặt.

Ðức Giêsu hôm nay vẫn có nhiều nơi Ngài muốn đến,

nhiều căn nhà, nhiều thành phố Ngài muốn đặt chân.

Ngài cần những người đi trước để chuẩn bị cuộc gặp gỡ

giữa Ngài với con người.

Khoa học càng tiến bộ, cuộc sống càng văn minh

thì càng có nhiều lãnh vực mới Ðức Giêsu cần vào.

Ðưa Ngài vào thật là một thách đố cho chúng ta.

Ngài phải vào cả những nơi tưởng như bị cấm.

Nhưng nếu chúng ta được Ngài sai vào trước,

thì thế nào cuối cùng Ngài cũng vào được.

Nếp sống cao ở thành thị vừa gây cản trở,

vừa cung ứng cho ta nhiều phương tiện để đưa Ngài vào.

Hãy chuẩn bị cho Ngài vào thành phố của bạn,

vào trường học, sân vận động, vào xí nghiệp, công ty…

Hãy chuẩn bị để Ngài vào từng nhà, gặp từng người.

Mọi Kitô hữu đều được mời gọi để làm việc đó.

Ðâu là khuôn mặt của người được sai hôm xưa?

Hiền lành như chiên giữa bầy sói.

Khó nghèo thanh bạch, không túi tiền, giầy dép, bao bị.

Khiêm tốn đón nhận sự giúp đỡ về nhà ở cơm ăn.

Tôn trọng tự do tha nhân, chấp nhận bị từ chối.

Người Châu Á hôm nay dễ đón nhận người tông đồ

sống khổ hạnh, thoát tục, sống thư thái, trầm tư,

sống nhân từ, phục vụ.

Cuộc sống của họ phải tỏa hương thơm của thế giới mai sau,

phải có khả năng nâng con người lên Ðấng Tuyệt Ðối.

Ðâu là đóng góp của người được sai hôm xưa?

Vừa chữa người đau yếu và trừ quỷ,

vừa loan báo về triều đại Thiên Chúa gần đến.

Việc làm chứng thực lời giảng, lời giảng soi sáng việc làm.

Cả hai đều đem lại niềm vui, bình an và hạnh phúc.

Thế giới hôm nay vẫn là một thế giới bệnh tật,

một thế giới thèm khát tự do, thèm được là mình.

Chúng ta sẽ rao giảng gì cho 97% dân Châu Á

mà phần đông đã tin vào một Ðấng Cứu Ðộ?

Ðức Giêsu đem đến cho nhân loại quà tặng đặc biệt nào?

Chúng ta phải tập trình bày sứ điệp Kitô giáo,

nên cũng phải học nhiều nơi các tôn giáo Á Châu.

Các giám mục Malaysia, Singapore và Brunei

đã liệt kê những gì có thể học được nơi họ.

Học cầu nguyện, ăn chay, bố thí nơi người Hồi giáo.

Học suy niệm và chiêm niệm nơi người Ấn giáo.

Học từ bỏ của cải và trọng sự sống nơi người Phật tử.

Học thái độ thảo hiếu, tôn lão kính trưởng nơi đạo Khổng.

Học sự đơn sơ, khiêm tốn nơi người theo đạo Lão.

Càng học, ta càng dễ giới thiệu Ðức Giêsu,

và càng thấy Ngài đang ẩn mình nơi những tôn giáo khác.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,

xin sai chúng con lên đường

nhẹ nhàng và thanh thoát,

không chút cậy dựa vào khả năng bản thân

hay vào những phương tiện trần thế.

Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm:

rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ,

chữa lành những người ốm đau.

Xin cho chúng con biết nói Tin Mừng với niềm vui,

như người tìm được viên ngọc quý,

biết nói về Ngài như nói về một người bạn thân.

Xin ban cho chúng con khả năng

đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa.

Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ

của bao người đau khổ thể xác tinh thần.

Lạy Chúa Giêsu,

thế giới thật bao la

mà vòng tay chúng con quá nhỏ.

Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau

mà tin tưởng lên đường,

nhẹ nhàng và thanh thoát.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu
Photo

Post has shared content


Chàng rể còn ở với (19.1.2015 – Thứ hai Tuần 2 Thường niên)

Bấy giờ các môn đệ ông Gioan và các người Pharisêu đang ăn chay; có người đến hỏi Ðức Giêsu: “Tại sao các môn đệ ông Gioan và các môn đệ người Pharisêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?” Ðức Giêsu trả lời: “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ? Bao lâu chàng rể còn ở với họ, họ không thể ăn chay được. Nhưng khi tới ngày chàng rể đã bị đem đi, bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó. Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì như vậy, miếng mới đã vá vào sẽ kéo vải cũ, khiến chỗ rách lại càng rách thêm. Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, thế là rượu cũng mất mà bầu cũng hư. Nhưng rượu mới, thì phải bầu mới!”

Suy niệm:

Một trong những nét khác biệt giữa Gioan Tẩy Giả với Đức Giêsu

là sự khắc khổ nhiệm nhặt.

Gioan được coi là người “không ăn bánh, không uống rượu” (Lc 7, 33).

còn Đức Giêsu bị mang tiếng là “tay ăn nhậu” với quân thu thuế (Lc 7, 34).

Chúng ta đã từng thấy ngài ăn tại nhà ông Lêvi hay ông Dakêu.

Các người Pharisêu cũng là những người thích ăn chay nhiều lần trong tuần,

dù ngày ăn chay chính thức hàng năm của đạo Do-thái chỉ là ngày lễ Xá tội.

Như thế có sự khác biệt khá rõ giữa môn đệ của Đức Giêsu

với môn đệ của Gioan Tẩy Giả và môn đệ của người Pharisêu.

Một bên có vẻ thoáng và thoải mái, một bên thì khắc khổ nhiệm nhặt.

“Tại sao môn đệ của ông lại không ăn chay ?”

Có người đã dám hỏi thẳng Đức Giêsu như thế.

Ngài đã trả lời bằng một cách dùng một hình ảnh dễ hiểu và đầy ý nghĩa.

Vào thời Đức Giêsu, tại Paléttin, cũng như tại nhiều vùng quê ngày nay,

đám cưới là một biến cố mừng vui có tính làng xã.

Chẳng thể nào hiểu được chuyện một người đi ăn cưới

với khuôn mặt buồn của kẻ đang ăn chay.

“Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay,

khi chàng rể còn ở với họ”

Đức Giêsu tự ví mình với chàng rể, còn môn đệ là khách dự tiệc cưới.

Bầu khí trong nhóm môn đệ của ngài là bầu khí vui tươi của một lễ thành hôn

bởi lẽ thời đại thiên sai đã đến rồi.

Đức Giêsu, Đấng Mêsia dân Ítraen mong đợi từ lâu, nay có mặt.

Ngài là chàng rể kết duyên với cô dâu là dân tộc Ítraen của ngài.

Đức Giêsu đã làm trọn điều các ngôn sứ nói trong Cựu Ước

về việc Thiên Chúa lập hôn ước với dân của Người (Hs 2, 21-22; Is 62, 4-5).

“Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi khỏi họ, bấy giờ họ mới ăn chay.”

Sau khi Đức Giêsu chịu cái chết dữ dằn, được phục sinh và lên trời,

Giáo hội bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn chờ đợi ngài quang lâm.

Trong giai đoạn này, khi Chúa Giêsu vừa vắng mặt, vừa hiện diện,

Các Kitô hữu ăn chay, vác thánh giá theo Chúa Giêsu,

dù họ vẫn luôn sống trong niềm vui, bởi tin vào Đấng đã phục sinh vinh hiển.

Cầu nguyện:


Lạy Chúa Giêsu,

các sách Tin Mừng chẳng khi nào nói Chúa cười,

nhưng chúng con tin Chúa vẫn cười

khi thấy các trẻ em quấn quýt bên Chúa.

Chúa vẫn cười khi hồn nhiên ăn uống với các tội nhân.

Chúa đã cố giấu nụ cười trước hai môn đệ Emmau

khi Chúa giả vờ muốn đi xa hơn nữa.

Nụ cười của Chúa đi đôi với Tin Mừng Chúa giảng.

Nụ cười ấy hòa với niềm vui

của người được lành bệnh.
Lạy Chúa Giêsu,

có những niềm vui

Chúa muốn trao cho chúng con hôm nay,

có sự bình an sâu lắng Chúa muốn để lại.

Xin dạy chúng con biết tươi cười,

cả khi cuộc đời chẳng mỉm cười với chúng con.

Xin cho chúng con biết mến yêu cuộc sống,

dù không phải tất cả đều màu hồng.

Chúng con luôn có lý do để lo âu và chán nản,

nhưng xin đừng để nụ cười tắt trên môi chúng con.

Ước gì chúng con cảm thấy hạnh phúc,

vì biết mình được Thiên Chúa yêu thương

và được sai đi thông truyền tình thương ấy. Amen.


Post has shared content


Không muốn ai hư mất (9.12.2014 – Thứ ba Tuần 2 Mùa Vọng)

Khi ấy Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất.”

Suy niệm:

Chăn chiên là một nghề đã có từ lâu.

Nhiều nhà lãnh đạo dân Do Thái như Môsê, Đavít, đều làm nghề này.

Trên những đồng cỏ mênh mông, giữa trời và đất, chỉ có chiên và mục tử,

nên giữa đôi bên có một sự thân thiết và hiểu biết nhau thật gần gũi.

Chính vì thế trong Cựu Ước, Thiên Chúa hay ví mình với người chăn chiên.

Đàn chiên là dân Do Thái, là dân riêng Ngài rất mực quý yêu:

“Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa…

Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng,

bầy chiên mẹ cũng tận tình dẫn dắt” (Is 40,11).

Như Thiên Chúa, Đức Giêsu cũng ví mình với người mục tử tốt lành.

“Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi” (Ga 10, 14).

Sự hiểu biết thân thương này mạnh đến độ

Ngài dám hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên (Ga 10, 15).

Sau khi chết và phục sinh, Đức Giêsu muốn Simon nhận sứ mạng mục tử.

Ngài mời ông chăm sóc và chăn dắt chiên của Ngài (Ga 21, 15-17).

Như thế đoàn chiên mới của Đức Giêsu lúc nào cũng được bảo vệ.

Qua bao thế kỷ Giáo Hội vẫn không ngừng có những mục tử mới,

nối gót Simon Phêrô để phục vụ và hiến mạng vì đoàn chiên.

Nhưng Đức Giêsu không dạy người mục tử chỉ lo cho cả đoàn,

mà quên chăm sóc cho từng con chiên một.

Ngài mời ta để ý đến tập thể lớn, nhưng không được quên từng cá nhân nhỏ.

Có khi chỉ một con chiên lạc lại khiến người mục tử bận tâm lo lắng

đến nỗi để chín mươi chín con trên núi mà đi tìm con bị mất (c. 12).

Không phải vì coi thường chín mươi chín con không bị lạc,

nhưng vì người mục tử không muốn mất con nào.

Con chiên lạc lại có chỗ đứng đặc biệt trong trái tim mục tử.

Chúng ta ai cũng có kinh nghiệm về chuyện tìm lại được điều đã mất.

Khi mất thì đứng ngồi không yên,

khi tìm thấy thì bình an và niềm vui òa vỡ.

Người mục tử lo âu, vất vả tìm kiếm con chiên lạc,

nhưng khi tìm được rồi thì niềm vui là vô bờ.

Có thể nói còn vui hơn chuyện chín mươi chín con không bị lạc (c. 13).

Dường như người ta bắt đầu quý một điều từ khi mất điều đó.

Có khi một người bắt đầu hiện diện từ khi người ấy vắng mặt và mất đi.

Cha không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất (c. 14).

Cha muốn cho mọi người được cứu độ và không muốn mất một ai (1 Tm 2, 4).

Mùa Vọng là thời gian chúng ta nhìn lại những người bé mọn quanh ta,

những người từ lâu đã bỏ nhà thờ, những người mất lòng tin vào Chúa.

Mỗi người chúng ta phải là mục tử cho nhau, chăm sóc nhau, quý nhau,

khởi đi từ những người trong gia đình, trong nhóm bạn thân quen.

Chúng ta quý nhau vì Thiên Chúa quý từng người chúng ta.

Chúng ta chẳng thể mừng Lễ Giáng sinh nếu còn một người đang lạc ở đâu đó.

Nếu chịu mất công đi tìm về, chúng ta mới được hưởng niềm vui trọn vẹn

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,

Khi làm người, Chúa đã nhận trái đất này làm quê hương.

Chúa đã ban nó cho chúng con như một quà tặng tuyệt vời.

Nếu rừng không còn xanh, dòng suối không còn sạch,

và bầu trời vắng tiếng chim.

thì đó là lỗi của chúng con.

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa đã đến làm người để tôn vinh phận người,

vậy mà thế giới vẫn có một tỷ người đói,

bao trẻ sơ sinh bị giết mỗi ngày khi chưa chào đời,

bao kẻ sống không ra người, nhân phẩm bị chà đạp.

Đó là lỗi của chúng con.

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa đến đem bình an cho người Chúa thương,

vậy mà trái đất của chúng con chưa một ngày an bình.

Chiến tranh, khủng bố, xung đột, có mặt khắp nơi.

Người ta cứ tìm cách giết nhau bằng thứ vũ khí tối tân hơn mãi.

Đó là lỗi của chúng con.

Lạy Chúa Giêsu ở Belem,

Chúa đã cứu độ và chữa lành thế giới bằng tình yêu khiêm hạ,

nhưng bất công, ích kỷ và dối trá vẫn thống trị địa cầu.

Chúa đến đem ánh sáng, nhưng bóng tối vẫn tràn lan.

Chúa đến đem tự do, nhưng con người vẫn bị trói buộc.

Đó là lỗi của chúng con.

Vì lỗi của chúng con, chương trình cứu độ của Chúa bị chậm lại,

và giấc mơ của Chúa sau hai ngàn năm vẫn chưa thành tựu.

Mỗi lần đến gần máng cỏ Belem,

xin cho chúng con nghe được lời thì thầm gọi mời của Chúa

để yêu trái đất lạnh giá này hơn,

và xây dựng nó thành mái ấm cho mọi người.

Gioan baotixita lê sỹ nguyên

PhotoPhotoPhotoPhoto
09/12/2014
4 Photos - View album

Post has shared content


Đấng đầy ân sủng (8.12.2014 – Thứ hai – Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội)

Lời Chúa: Lc 1, 26-38

Bà Êlisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc nhà Ðavít. Trinh nữ ấy tên là Maria. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ân sủng, Ðức Chúa ở cùng bà.” Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Ðức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Ðavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”

Bà Maria thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Ðấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

Bấy giờ bà Maria nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”

Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

Suy niệm:

Ngày 25-3-1858 tại Lộ Đức, Đức Mẹ lại hiện ra cho Bernadette,

một cô bé mười bốn tuổi, nhà nghèo, quê mùa.

Vào lần hiện ra thứ mười sáu, khi cô gặng hỏi tên của Bà đẹp,

Bà đã trả lời: Que soy era Immaculada Conception,

Ta là sự Thụ thai vô nhiễm.

Một câu trả lời khó hiểu và khó nhớ đối với một cô bé ít học.

Dĩ nhiên cô không hề biết rằng bốn năm trước đó,

Đức Piô IX đã công bố tín điều Đức Maria Vô Nhiễm nguyên tội.

Mừng lễ Đức Maria Vô nhiễm là mừng lễ một con người, một phụ nữ.

Thiên Chúa muốn Con Một của mình làm người trăm phần trăm,

nên cần tuyển một phụ nữ để sinh ra người Con ấy.

Maria chính là người được chọn, hoàn toàn như một ân huệ.

Khi chọn Maria, Thiên Chúa đã ban cho Mẹ mọi sự tốt đẹp nhất có thể,

vì ơn gọi quá vĩ đại là làm Mẹ Con Thiên Chúa.

Maria được Thiên Chúa bao bọc và bảo vệ bằng ân sủng tuyệt vời.

Ngài cho Mẹ được hưởng trước công nghiệp của Người Con,

nên gìn giữ Mẹ khỏi vết nhơ của nguyên tội.

Mừng lễ Vô nhiễm là mừng lễ một con người, một phụ nữ,

ngay từ giây phút đầu tiên được thụ thai,

đã trọn vẹn và tuyệt đối nằm trong bàn tay yêu thương của Thiên Chúa.

Khi nói Mẹ không nhiễm vết nhơ của nguyên tội

là chỉ mới nêu lên một khía cạnh có phần tiêu cực.

Theo Công Đồng Vaticanô II, từ giây phút hiện diện đầu tiên của cuộc sống,

Mẹ đã được rạng ngời một sự thánh thiện hoàn toàn độc nhất vô nhị.

Giáo Hội Đông Phương gọi Mẹ là Đấng toàn thánh (panagia).

Sự thánh thiện của Mẹ đã được sứ thần Gabrien diễn tả qua lời chào :

“Mừng vui lên, hỡi Đấng được đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà.”

Maria được Thiên Chúa ban đầy tràn ân sủng,

nghĩa là được Thiên Chúa yêu thương, và được đẹp lòng Thiên Chúa,

từ trước khi Mẹ nói tiếng Xin Vâng.

Nhưng ân sủng không bóp chết tự do và trách nhiệm.

Mẹ đã đáp lại tình yêu đó với sự mở ra không ai sánh bằng.

Tiếng Xin Vâng trên môi của cô thiếu nữ Maria

là cử chỉ đón lấy Đấng Cứu Độ vào đời mình, vào lòng dạ mình.

Maria đã suốt đời trung tín với tiếng Xin Vâng đầu tiên

bằng việc nói muôn tiếng Xin Vâng khác cho đến tận thập giá.

Những gì Mẹ Maria được hưởng, chúng ta cũng được chung phần.

Chúng ta cũng được chọn, được tẩy xóa tội nguyên tổ, được ban ơn.

Chúng ta cũng được mời gọi đáp lại bằng những tiếng Xin Vâng nho nhỏ.

Sống Mùa Vọng là để cho Con Thiên Chúa đi vào đời mình.

Như Đức Maria, chúng ta được mời gọi cưu mang Con Thiên Chúa,

làm cho Ngài lớn lên mỗi ngày và sinh Ngài ra cho thế giới.

Chúng ta cũng muốn cưu mang Giêsu với trái tim và cuộc đời vô nhiễm.

Xin Chúa cho chúng ta được chia sẻ ơn Vô Nhiễm giữa cuộc đời ô nhơ.

Cầu nguyện:

Lạy Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa,

xin gìn giữ nơi con quả tim của trẻ thơ

tinh tuyền và trong ngần như dòng suối.

Xin ban cho con quả tim đơn sơ,

mau quên những nỗi buồn phiền.

Một quả tim hào hiệp dám hiến thân,

dịu dàng để cảm thông.

Một quả tim trung thành và quảng đại,

không quên ơn, không báo oán.

Xin tạo cho con quả tim hiền từ và khiêm tốn,

yêu mà không mong được yêu lại,

hân hoan xóa mình đi

để Con của Mẹ có chỗ trong lòng người khác.

Một quả tim vĩ đại và bất khuất,

không khép lại trước những kẻ vô ơn,

không chán nản trước người lạnh nhạt.

Một quả tim khắc khoải

lo tìm vinh danh Chúa Giêsu Kitô,

quả tim mang vết thương vì yêu Ngài,

vết thương chỉ lành

khi được sống với Ngài trên trời. Amen.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ



Photo

Post has shared content


Chúa Nhật (07-12-2014) – Trang suy niệm

Chúa Nhật II Mùa Vọng Năm B

BÀI ĐỌC I: Is 40, 1-5. 9-11

“Hãy dọn đường Chúa”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Chúa ngươi phán: Hỡi dân Ta, hãy an tâm, hãy an tâm! Hãy nói với Giêrusalem, và kêu gọi rằng: Thời nô lệ đã chấm dứt, tội lỗi đã được ân xá, Chúa đã ban ơn nhiều gấp hai lần tội lỗi.

Và có tiếng kêu trong hoang địa rằng: “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa chúng ta trong hoang địa cho ngay thẳng. Hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi; con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng. Và vinh hiển Chúa sẽ xuất hiện, mọi người sẽ được thấy vinh quang Thiên Chúa, vì Ngài đã phán.

Hỡi ngươi là kẻ đưa tin mừng cho Sion, hãy trèo lên núi cao. Hỡi ngươi là kẻ đưa tin mừng cho Giêrusalem, hãy mạnh dạn cất tiếng. Hãy cất tiếng cao, đừng sợ! Hãy nói cho các dân thành thuộc chi họ Giuđa rằng: Đây Thiên Chúa các ngươi, đây Chúa là Thiên Chúa các ngươi sẽ đến trong quyền lực; cánh tay Người sẽ thống trị. Người mang theo những phần thưởng chiến thắng và đưa đi trước những chiến lợi phẩm. Người chăn dắt đoàn chiên Người như mục tử. Người ẵm chiên con trên cánh tay, ôm ấp chúng vào lòng, và nhẹ tay dẫn dắt những chiên mẹ. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 84, 9ab-10. 11-12. 13-14

Đáp: Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con, và ban ơn cứu rỗi cho chúng con (c. 8).

1) Tôi sẽ nghe Chúa là Thiên Chúa của tôi phán bảo điều chi? Chắc hẳn Người sẽ phán bảo về sự bình an. Vâng, ơn cứu độ Chúa gần đến cho những ai tôn sợ Chúa, để vinh quang Chúa ngự trị trong đất nước chúng tôi. – Đáp.

2) Lòng nhân hậu và trung thành gặp gỡ nhau; đức công minh và sự bình an hôn nhau âu yếm. Từ mặt đất, đức trung thành sẽ nở ra, và đức công minh tự trời nhìn xuống. – Đáp.

3) Vâng, Chúa sẽ ban cho mọi điều thiện hảo, và đất nước chúng tôi sẽ sinh bông trái. Đức công minh sẽ đi trước thiên nhan Chúa, và ơn cứu độ theo sau lốt bước của Người. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: 2 Pr 3, 8-14

“Chúng ta mong đợi trời mới đất mới”.

Trích thơ thứ hai của Thánh Phêrô Tông đồ.

Anh em thân mến, có một điều anh em không thể không biết là một ngày đối với Chúa như ngàn năm, và ngàn năm như một ngày. Không phải Chúa chậm trễ thi hành lời hứa của Người, như có vài người lầm tưởng, nhưng vì anh em, Người hành động nhẫn nại, Người không muốn ai phải hư mất, nhưng muốn mọi người ăn năn sám hối. Ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Trong ngày đó, các tầng trời qua đi trong những tiếng rung chuyển mạnh, ngũ hành đều cháy tiêu tan, trái đất cùng mọi công trình kiến tạo đều bị thiêu huỷ.

Vì mọi vật ấy tiêu tan đi, nên anh em càng phải sống thánh thiện và đạo đức biết bao, khi anh em mong chờ và thôi thúc ngày Chúa đến, ngày mà các tầng trời bốc cháy tiêu tan, và ngũ hành bị thiêu rụi. Nhưng theo lời Người hứa, chúng ta mong đợi trời mới đất mới, trong đó công lý sẽ ngự trị. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Lc 3, 4. 6

Alleluia, alleluia! – Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng; và mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa. – Alleluia.

PHÚC ÂM: Mc 1, 1-8

“Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khởi đầu Phúc Âm của Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa. Như có lời Tiên tri Isaia chép rằng: Đây Ta sai Thiên Thần của Ta đến trước mặt ngươi để dọn đường cho ngươi. Có tiếng kêu trong hoang địa rằng: “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng”.

Gioan Tẩy Giả xuất hiện trong hoang địa, rao giảng phép rửa sám hối cầu ơn tha tội. Dân cả miền Giuđêa và Giêrusalem tuôn đến với người, thú tội và chịu phép rửa trong sông Giođan.

Lúc đó Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Người rao giảng rằng: “Đấng đến sau tôi, quyền năng hơn tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi dây giày Người. Phần tôi, tôi lấy nước mà rửa các ngươi, còn Ngài, Ngài sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần”. Đó là lời Chúa.

07/12/2014 – CHÚA NHẬT TUẦN 2 MV – B

Mc 1,1-8

TIỀN HÔ CỦA ĐẤNG KI-TÔ

“Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người.” (Mc 1,7)

Suy niệm: Thánh Gio-an Tẩy Giả được xem như bản lề của thời Cựu Ước và Tân Ước. Cựu Ước loan báo về ông: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt con… Có tiếng người hô trong hoang địa…” Tân Ước giới thiệu ông là vị Tiền Hô, đi trước dọn đường cho Đức Ki-tô qua việc “kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được tha tội.” Ông làm phép rửa bằng nước, nhận chìm hối nhân trong nước; đồng thời cũng loan báo phép rửa của Đức Ki-tô sẽ nhận chìm hối nhân trong ân huệ của Chúa Thánh Thần. Vị Tiền Hô xuất hiện với hình ảnh ấn tượng: mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng. Với cuộc sống khắc khổ, lời rao giảng thẳng thắn, thái độ khiêm tốn, ông đã hoàn thành sứ vụ của mình: dọn lòng dân Chúa và rồi giới thiệu Đấng Cứu Thế cho dân.

Mời Bạn: “Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.” Dọn sẵn con đường cho Chúa đến với bạn bằng cách làm chủ các khuynh hướng xấu của bản năng như tránh chè chén say sưa, phóng túng trong đời sống luân lý, thái độ vụ lợi trong tương quan với người khác. Tích cực hơn, bạn hãy siêng năng cầu nguyện, gặp gỡ Chúa qua các giờ phụng vụ, đọc Lời Chúa.

Sống Lời Chúa: Tôi ý thức mình phải chuẩn bị tâm hồn mừng Lễ Giáng Sinh năm nay qua việc dọn đường trên đây.

Cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa toàn năng ái tuất, xin đừng để chúng con mải mê thế sự, mà chẳng còn hăm hở đi đón mừng Con Chúa, nhưng xin dạy chúng con biết ham thích những sự trên trời, hầu được cùng Người vui hưởng phúc trường sinh” (Chúa nhật II MV).

(5 Phút Lời Chúa)


Hãy Nâng Tâm Hồn Lên

7 THÁNG MƯỜI HAI

Được Chọn Để Nên Thánh Thiện Và Tinh Tuyền

Trong Tin Mừng theo Thánh Luca, Đức Maria lắng nghe những lời này: “Kính chào người được sủng ái!” (Lc 1,28). Hay như ta thường nói: “Kính chào Bà đầy ân phúc!” Lời chào này đến với Mẹ – như Thư Êphêsô cho thấy – từ chính Thiên Chúa. Đó là một sự diễn tả của tình yêu vĩnh cửu, một diễn tả về việc Thiên Chúa tuyển chọn Mẹ “trên các tầng trời trong Đức Kitô”. Thiên Chúa “đã chọn chúng ta trong Người, trước khi tạo thành vũ trụ, để trở nên thánh thiện và tinh tuyền trước nhan Ngài” (Ep 1,4).

Đức Nữ Trinh ở Na-da-rét nghe lời chào này: “Kính chào Bà đầy ơn phúc!” Lời chào ấy nói về sự kiện Mẹ được ưu tuyển trong Đức Kitô.

Lạy Nữ Tử It-ra-en,

Trong Chúa Kitô, Thiên Chúa đã chọn Mẹ –

để trở nên thánh thiện và tinh tuyền.

Người đã chọn Mẹ trước cả khi vũ trụ bắt đầu.

Người đã chọn Mẹ để trở nên thánh thiện vô tì vết

ngay từ giây phút đầu tiên

Mẹ đầu thai trong lòng thân mẫu.

Người đã chọn Mẹ do tình yêu đối với Con của Người.

Vì trong mầu nhiệm Nhập Thể,

Con Thiên Chúa đã có được người mẹ

do Thiên Chúa tuyển chọn

trong tất cả sự viên mãn của Mẹ:

người Mẹ đầy ân sủng thần linh.

Vì thế, sứ thần chào Mẹ ‘Bà đầy ơn phước!’

– suy tư 366 ngày của Đức Gioan Phaolô II


Lời Chúa Trong Gia Đình

NGÀY  07-12

Chúa Nhật II Mùa Vọng

Is 40,1-5.9-11; 2Pr 3,8-14; Mc 1,1-8.

LỜI SUY NIỆM: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Trong sách ngôn sứ Isaia có chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con”

Mác-cô đang giới thiệu Chúa Giêsu là Đấng Kitô, là Con Thiên Chúa theo lời hứa của Thiên Chúa mà trong Cựu Ước đã loan báo như ngôn sứ Isaia đã loan báo: “Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để người đi” và Mác-cô đã dẫn chứng: “Đúng theo lời đó, ông Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội.”

Lạy Chúa Giêsu, chúng con không những đón nhận Chúa cho riêng mình, mà còn phải loan truyền, chuẩn bị những gì cần thiết cho những người chưa biết Chúa, để họ cũng được biết Chúa, để đón nhận Chúa là Chúa của mình , là Đấng cứu độ. Để được sự sống đời đời.


Gương Thánh Nhân

Ngày 07-12: Thánh AMBRÔSIÔ

Giám mục và tiến sĩ Hội Thánh

(339 – 397)

Thánh Ambrôsiô chào đời khoảng năm 339 tại Augusta Trevororum. Cha Ngài, ông Aurlio Ambrôsiô làm tổng trấn xứ Gauules và là nghị sĩ viện quí tộc. Nhưng ông chết sớm, mẹ Ngài trở về Roma với 3 người con: Ambrosiô. Marcellina và Satyra, cả 3 đều nên thánh.

Ambrôsiô chưa lãnh phép rửa tội như thói quen thời ấy hay chần chừ, sợ mất ơn phép rửa tội, nhưng Ngài đã sống tuổi thơ ấu đạo đức. Lớn lên, Ngài tỏ ra thông minh đặc biệt, nổi tiếng về thơ văn, tài hùng biện và luật pháp. Thuộc dòng quí tộc, Ambrôsiô được đặt làm lãnh sự tỉnh Emilia và Liguria với thị trấn là Milan. Probus, vị tổng trấn theo Kitô giáo đã khuyên Ngài: – “Hãy đi và hành động như một giám mục hơn là quan án”.

Và người ta thán phục nhà quí tộc Kitô giáo vì sự khôn ngoan tỉnh thức và hiền hậu của Ngài. Giám mục Milan qua đời, một cộng đoàn tập hợp trong nhà thờ, người ta gây ồn ào xáo trộn tại đó vì chiahai phe: phe công giáo và phe theo Ariô. Ambrôsiô với tư cách là nhà cầm quyền đã đến dàn xếp. Ngài diễn thuyết kêu gọi hoà bình và khuyên dân chúng khôn ngoan chọn lựa, Ngài nói một cách đáng phục đến nỗi mọi tín hữu đều một tiếng kêu lớn: “Ambrôsiô làm giám mục”.

Hết còn phân ly, người ta ôm nhau khóc vì vui mừng. Hoàng đế Valentinô đã chuẩn nhận việc tuyển chọn bất ngờ này.

Lúc ấy, Ambrôsiô còn là một dự tòng, nên cảm thấy mình bất xứng để làm cha linh hồn của cả đoàn dân Ngài. Ngài đã có lần trốn thoát đến nỗi còn muốn gây cớ xúc phạm để tỏ ra bất xứng, nhưng vẫn không đánh lừa nổi ai. Ngài còn viết thư cho các giám mục và hoàng để xin cáo lui, nhưng hoàng đế còn bày tỏ lòng thán phục: – “Không có một tinh thần nào ngay chính hơn, đây là một tay lái không thể uốn cong được”.

Ambrôsiô dành nhiều miễn cưỡng chấp nhận. Ngày 24 tháng 11 Ngài chịu phép Rửa tội. Ngày 07 tháng 12 năm 374 Ngài đã thụ phong linh mục và được thánh hiến giám mục. Ngài nói: – “Tôi bắt đầu dạy dỗ điều mà tôi không được học”.

Ambrôsiô không coi mình như người thuộc thế gian nữa, Ngài phân phát của cải cho người nghèo và dâng đất đai cho Giáo hội. Một phần đêm khuya dành để cầu nguyện và học hỏi. Ngài học các tác phẩm Kitô giáo, nhất bằng tiếng Hy Lạp và đào sâu thần học. Buổi rạng đông, dâng lễ rồi vào bàn làm việc. Ngài rao giảng để tái hồi giáo phận bị xáo trộn bởi phái Ariô. Ngài mở rộng cửa tiếp đón mọi người cần đến mình. Thánh Augustinô mà Ngài góp phần cải hóa đã gọi Ngài là thầy. Khi dạy dỗ, Ngài tỏ ra hiền hậu mà người ta gọi là “sự ngọt ngào của Ambrôsiô”.

Khi ngồi tòa, Ngài đã khóc như chính mình là tội nhân. Không có giờ ăn, Ngài như chay tịnh liên tiếp. Việc mục vụ nặng nề không ngăn cản Ngài tỏ ra là một thủ lãnh quyết bảo vệ đức tin công giáo. Ở Roma, tại cung điện nữ hoàng Justina theo Ariô, muốn chiếm nhà thờ Milan, giám mục chống lại và quyết bảo vệ thánh đường. Từ Chúa nhật lễ lá tới thứ năm tuần thánh, một đoàn người công hãm thánh đường. Ambrôsiô dùng việc giảng dạy và thánh ca để giữ tín hữu. Những người yêu mến Ngài làm thành một hàng rào bao quanh Ngài. Cuối cùng, chiến thắng về tay Ambrôsiô. Ngài vẫn luôn tỏ thái độ cương quyết như thế.

Đế quốc rơi vào tay Theodosiô. Vị Tân hoàng đế rất quí chuộng và kính trọng giám mục. Đức giám mục cũng yêu mến ông bằng tình phụ tử, nhưng không vì thế mà thành ra yếu đuối bất công. Theodosiô trên đài vinh quang, để trừng phạt cuộc nổi loạn ở Thesalonica, đã ra lệnh tàn sát dã man. Thánh Ambrôsiô viết thư quở trách, bắt ông hối cải và cấm vào thánh đường. Ít lâu sau, Theodosiô chiến thắng trở về Milan với binh sĩ muốn vào thánh đường, đức giám mục đứng ở cưả ngăn ông lại và trách cứ ông. Hoàng đế lui về hoàng cung thống hối trong tám tháng. Ngày lễ Giáng sinh, ông khóc lóc xin tha tội. Ông cởi áo bào, phục dưới thềm nhà thờ và xếp hàng giữa đám tội nhân công khai. Không bao giờ ông còn chiếm chỗ danh dự nơi cung thánh nữa. Dân Milan rất thán phục vị vua đã đền tội cách quảng đại như vậy.

Về sau, ông lại đi dẹp một cuộc nổi loạn mới. Thánh Ambrôsiô lại viết cho ông: – “Chiến thắng của vua sẽ bất toàn nếu vua không tha cho các kẻ nổi loạn”.

Vua đã tha. Trở về, Ambrôsiô ôm ông và khóc vì vui mừng. Vua đã qua đời trong tay vị giám mục. Với hoàng tử kế vị. Thánh Ambrôsiô nói: -“Ông không phải làm vua để phục vụ lợi ích gia đình mình thôi, nhưng là để cai quản mọi người”.

Và đối với vị vua băng hà, thánh Ambrôsiô nói: – “Tôi yêu mến con người này, vì đã ưa người quở trách mình hơn bọn nịnh thần. Hoàng đế đã không mắc cỡ khi hoàn tất việc thống hối công khai và không ngày nào mà không khóc lỗi lầm mình”.

Thánh Ambrôsiô còn sống thêm hai năm sau cái chết của vua Theodosiô. Nghe loan báo về cơn bệnh của Ngài, một viên chức của nhà vua tuyên bố: – “Con người này mà chết đi thì Italia sẽ bị đe dọa tàn phá đến nơi”.

Danh tiếng của Ngài vang dội đến nỗi rợ dân đã không dám chống lại Ngài. Có những thủ lãnh tin rằng: Ngài có thể ngưng mặt trời lại. Ngài đã hạnh phúc dùng thư tín mà cải hoá được nữ hoàng Marcômans. Trước khi qua đời ngày 4 tháng 4 năm 379 Ngài đã tổ chức các tòa giám mục miền bắc Italia. Theo một tường thuật, Ngài đã nằm, tay chéo lại như hình Thánh giá và người ta có thể thấy như môi Ngài vẫn cầu nguyện không ngừng.

Gần mộ Ngài sẽ đặt phần mộ Marcellina, người em mà Ngài yêu qúi hơn cả. Con người và sự sống của thánh nữ chính nhờ sự dẫn dắt của Ngài đã hiến mình cho Thiên Chúa. Thánh Ambrôsiô đã để lại một công trình đáng kể.

Chiếc Áo Hạnh Phúc

Một vị vua kia có tấc cả mọi sự để được hạnh phúc… Nhưng lúc nào nhà vua cũng cảm thấy đau khổ, bứt rứt lo lắng. Các vị lương y khắp nước được triệu tập, nhưng tất cả đều bó tay. Sau cùng có một vị lương y xin yết kiến. Sau khi đã xem xét bệnh tình, vị lương y tâu rằng: “Ðức vua sẽ hoàn toàn hạnh phúc, nếu đức vua mặc được chiếc áo lót của người sung sướng nhất trần gian”.

Thế là nhà vua ra lệnh cho tìm xem ai là người hạnh phúc nhất trên trần đời… Binh sĩ đã đi rảo khắp cả nước, nhưng không tìm được con người hạnh phúc đó. Trên đường quay về chịu tội, họ đã gặp được một bác chăn chiên đang ca hát véo von, không một chút lo âu. Ðám binh sĩ đã sấn lại tóm cổ người chăn chiên và lột áo. Nhưng vừa lột áo người chăn chiên, họ vô cùng sửng sốt vì ông ta không có nổi một chiếc áo lót!

Người đời thường nói: “Có tiền vua tiên cũng được”. Nhưng chắc chắn người ta không thể dùng tiền bạc để mua hạnh phúc, an vui cho tâm hồn mình. Phúc thay những ai có tâm hồn nghèo khó. Chỉ khi nào tâm hồn chúng ta trống rỗng của cải, Thiên Chúa mới có thể lấp đày


GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Chuẩn bị tâm hồn để đón nhận Chúa.

Thông điệp chính của Chủ Nhật I Mùa Vọng là nhìn lại cuộc đời mỗi người để nhận ra sự cần thiết của Thiên Chúa trong cuộc đời. Thông điệp chính của Chủ Nhật này, tuần II Mùa Vọng: Phải chuẩn bị tâm hồn để đón nhận Chúa, để dọn đường cho Chúa vào nhà của mỗi người. Trong Bài đọc I, Tiên Tri Isaiah đòi dân Do-Thái điều mà tác giả một bài hát Mùa Vọng của Việt Nam sắp xếp lại cho dễ nhớ: “quanh co uốn cho ngay, gồ ghề san cho phẳng, hố sâu lấp cho đầy, nơi cao phải bạt xuống.” Trong Bài đọc II, Thánh Phêrô đòi các tín hữu: “trong khi mong đợi ngày đó, anh em phải cố gắng sao cho Người thấy anh em tinh tuyền, không chi đáng trách và sống bình an.” Trong Phúc Âm, Gioan Tẩy Giả lặp lại lời Tiên Tri Isaiah: “Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.” Ông kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Thiên Chúa an ủi dân Người.

Bài đọc hôm nay, bắt đầu chương 40, là phần giới thiệu của Sách thứ hai của Tiên Tri Isaiah. Sách này được viết trong Thời Lưu Đày (721-538 BC). Lưu đày nơi xứ lạ quê người, dân Do-Thái phải đương đầu với nhiều đau khổ, và có nguy hiểm đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa.

1.1/ Tin Mừng được loan báo: Thiên Chúa, mặc dù phải sửa phạt để thanh luyện dân, vẫn không ngừng theo dõi và quan tâm đến cuộc sống của họ. Ngài sai các tiên tri đến để sống với, an ủi, và khích lệ dân đừng đánh mất niềm tin nơi Thiên Chúa, như Tiên Tri Isaiah nói: Thiên Chúa anh em phán: “Hãy an ủi, an ủi dân Ta. Hãy ngọt ngào khuyên bảo Jerusalem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong, vì Thành đã bị tay Đức Chúa giáng phạt gấp hai lần tội phạm.” Qua những lời an ủi này, Tiên Tri muốn nói với dân: Chúa sửa phạt vì muốn cho họ trở nên tốt, chứ không phải vì ghét bỏ và muốn tiêu diệt họ.

1.2/ Chuẩn bị đường cho Chúa tới: Thời gian Lưu Đày được ví như thời gian mà Môsê hướng dẫn dân suốt 40 năm trong sa mạc trước khi vào Đất Hứa. Thời gian này cần vì nó giúp dân thanh tẩy những thói hư tật xấu: càm ràm, than trách, so đo, mê ăn uống, vô ơn, thờ bụt thần.

Cũng thế, trước khi Thiên Chúa phóng thích dân khỏi lưu đày và cho hồi hương để kiến thiết xứ sở, Ngài đòi dân phải thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi tính hư tật xấu, tượng trưng bằng hình ảnh chuẩn bị “một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta.” Tiên Tri đưa ra cách cho dân lưu đày cần phải chuẩn bị:

Quanh co uốn cho ngay: cần dẹp bỏ những mưu mẹo gian manh để đánh lừa người khác.

- Gồ ghề san cho phẳng: cần san phẳng những ghen ghét, tị hiềm, nói xấu, bỏ vạ, cáo gian.

- Hố sâu lấp cho đầy: cần lấp đầy những lòng tham không đáy về những sự thế gian: tiền của, uy quyền, danh vọng, thỏa mãn xác thịt.

- Núi đồi phải bạt xuống: những kiêu ngạo khinh thường Thiên Chúa và tha nhân phải bạt xuống; đồng thời biết khiêm nhường thực thi những lời Chúa dạy bảo qua các tiên tri.

1.3/ Thiên Chúa sẽ viếng thăm Dân Ngài: Sau khi con người đã thanh tẩy tâm hồn, “Bấy giờ vinh quang Đức Chúa sẽ tỏ hiện, và mọi người sẽ cùng được thấy miệng Đức Chúa đã tuyên phán.” Điều Tiên Tri nhìn thấy trước ở đây không phải chỉ là Ngày dân Do-Thái được giải phóng, hồi hương; nhưng còn là Ngày Đấng Cứu Thế xuất hiện và dạy dỗ họ.

Tiên Tri nói về Đấng Cứu Thế như sau: “Kìa Thiên Chúa các ngươi! Kìa Đức Chúa quang lâm hùng dũng, tay nắm trọn chủ quyền. Bên cạnh Người, này công lao lập được, trước mặt Người, đây sự nghiệp làm nên.” Đấng Cứu Thế sẽ lập nhiều chiến công hiển hách; tất cả những chiến công Người đạt được, dân chúng sẽ được hưởng những chiến công này.

Tiên Tri nói tiếp: “Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt.” Đấng Cứu Thế không những là Vua, Người còn là Mục Tử Nhân Lành. Người sẽ tận tình dẫn dắt cả chiên mẹ và chiên con. Đây là hình ảnh Đức Kitô khi Người tuyên xưng: “Ta là Mục Tử Nhân Lành, Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta” (Jn 10:14).

2/ Bài đọc II: Phải kiên nhẫn chờ đợi!

2.1/ Điều Chúa hứa chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng phải kiên nhẫn chờ đợi: Các tín hữu tiên khởi cũng hiểu sai về Ngày của Thiên Chúa. Họ tưởng Ngày Chúa đến lần hai sẽ xảy ra ngay trong thời đại của họ; nhưng khi thấy chờ mãi không xảy ra, họ chán nản và nhiều người quay về nếp sống cũ. Cả hai Thánh Phêrô và Phaolô (Thư gởi các tín hữu Thessalonica) cùng khuyên dân phải kiên nhẫn đợi chờ. Các Ngài cắt nghĩa các lý do như sau:

(1) Thời gian của Thiên Chúa khác với thời gian của con người: Thánh Phêrô nói: “Anh em thân mến, một điều duy nhất, xin anh em đừng quên: đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày. Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ.”

(2) Lý do tại sao phải tỉnh thức chờ đợi: Ngày của Chúa chưa tới, vì:

- Chúa muốn mọi người đều có cơ hội ăn năn: “Người kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người ăn năn hối cải.”

- Sự bất ngờ của Ngày Chúa đến: “Nhưng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Ngày đó, các tầng trời sẽ ầm ầm sụp đổ, ngũ hành bốc cháy tiêu tan, mặt đất và các công trình trên đó sẽ bị thiêu huỷ.”

2.2/ Phải chuẩn bị xứng đáng để đón nhận Chúa: Cũng một tư tưởng như Tiên Tri Isaiah trong Bài đọc I và Marco trong Phúc Âm, Thánh Phêrô khuyên các tín hữu trong khi chờ đợi Ngày Chúa đến, họ phải sống đạo đức, công chính, và thánh thiện tinh tuyền: “Anh em thân mến, trong khi mong đợi ngày đó, anh em phải cố gắng sao cho Người thấy anh em tinh tuyền, không chi đáng trách và sống bình an.” Nếu không chuẩn bị, họ sẽ phải chung số phận với sự tiêu tan của vũ trụ: “Muôn vật phải tiêu tan như thế, thì anh em phải là những người tốt dường nào, phải sống đạo đức và thánh thiện biết bao, trong khi mong đợi ngày của Thiên Chúa và làm cho ngày đó mau đến, ngày mà các tầng trời sẽ bị thiêu huỷ và ngũ hành sẽ chảy tan ra trong lửa hồng.”

3/ Phúc Âm: Tin Mừng được loan báo.

3.1/ Gioan Tẩy Giả dọn đường cho Đức Kitô: Bắt đầu từ hôm nay, Tin Mừng của Marco sẽ được dùng trong suốt Năm Phụng Vụ B. Thánh Marco mở đầu Tin Mừng của ngài bằng câu: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa.”

(1) Tin Mừng và người loan báo Tin Mừng: Tin Mừng là chính Đức Kitô, Người Con của Thiên Chúa. Người loan báo Tin Mừng có thể là chính Đức Kitô, khi Người mặc khải về Thiên Chúa Cha; hay các tiên tri, như Tiên Tri Isaiah trong Bài đọc I, các môn đệ của Chúa Giêsu; và ngay cả mọi tín hữu khi chúng ta rao giảng Tin Mừng.

(2) Sứ giả đi trước để dọn đường: Thánh Gioan Tẩy Giả là sứ giả đi trước để dọn đường cho Đức Kitô. Chúng ta biết sau Thời Lưu Đày (538 BC) cho đến thời Đấng Cứu Thế, cả hơn 500 năm, không có một tiên tri nào trong Israel cho đến thời của Gioan Tẩy Giả, ông được coi là tiên tri sau cùng của Cựu Ước, và là tiên tri giao thời giữa Cựu và Tân Ước. Sự xuất hiện của Gioan Tẩy Giả là ứng nghiệm lời của các tiên tri đã nói về ông:

- Ứng nghiệm lời tiên tri Malachi: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con” (Mal 3:1). Đúng theo lời đó, ông Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, ông đi trước để dọn đường cho Đức Kitô.

- Ứng nghiệm lời tiên tri Isaiah trong Bài đọc I hôm nay: “Có tiếng hô trong sa mạc.” Tiếng hô trong sa mạc là chính Gioan Tẩy Giả. Ông Gioan sống trong sa mạc, mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng. Cuộc sống đơn giản của Gioan Tẩy Giả giúp chúng ta suy nghĩ về lối sống của người môn đệ Chúa: chúng ta có cần lệ thuộc quá nhiều vào vật chất như cuộc sống của mỗi người chúng ta hiện nay không?

(3) Sứ điệp của sứ giả dọn đường: “Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.” Sứ điệp này cũng đã được Isaiah đề cập chi tiết trong Bài đọc I.

(4) Phép Rửa để tha tội: Theo truyền thống Do-Thái, Phép Rửa này chỉ dành cho những người muốn trở lại đạo Do-Thái: người tân tòng phải chịu cắt bì – dâng của lễ đền tội – và chịu thanh tẩy bằng nước. Điểm đặc biệt trong trình thuật hôm nay, Gioan bắt ngay cả những người Do-Thái gốc cũng phải lãnh nhận Phép Rửa này: “Mọi người từ khắp miền Judah và thành Jerusalem kéo đến với ông.” Sở dĩ Gioan Tẩy Giả bắt họ cũng phải qua tiến trình này vì có những người Do-Thái chỉ có đạo trên danh nghĩa mà không thực sự biết kính sợ Thiên Chúa. Cũng như có những người Công Giáo mà không bao giờ thực hành đạo của mình.

(5) Phải thú tội trước khi làm phép rửa: “Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Jordan.” Một cuộc hóan cải đòi hối nhân phải nhận ra tình trạng tội lỗi của mình, sự tốt lành của Thiên Chúa, và thành tâm thú nhận tội lỗi trước khi xứng đáng được hưởng ơn tha thứ. Tất cả những gì được mô tả trong trình thuật hôm nay, là căn bản cho thần học về 2 Bí-tích: Rửa Tội và Giao Hòa (hay Giải Tội).

3.2/ Gioan Tẩy Giả nói về Đấng Cứu Thế: một cách vắn tắt như sau:

(1): Người trổi vượt hơn tôi: Ông rao giảng rằng: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người.” Một câu rao giảng cũng là một lời tuyên xưng cho mọi người biết: ông biết uy quyền cao cả của Chúa Giêsu, và đồng thời cũng biết sự hèn hạ thấp kém của mình. Ông không muốn ai lẫn lộn ông với Chúa Giêsu.

(2) Phép Rửa để tha tội và Phép Rửa ban ơn thánh: “Tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần.” Phép Rửa của Chúa Giêsu không chỉ tha thứ mọi tội lỗi, nhưng còn ban các ơn của Chúa Thánh Thần.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta phải biết chuẩn bị tâm hồn để đón Chúa. Cách chuẩn bị thích hợp nhất là xét mình để nhận ra các tội của mình đã xúc phạm đến Chúa và tha nhân; sau đó phải thú nhận tội lỗi để xứng đáng lãnh nhận ơn tha thứ.

- Chúng ta phải biết kiên nhẫn đợi chờ Ngày Chúa đến. Trong khi chờ đợi Ngày đó, chúng ta phải biết sống đạo, thực hành công chính, và giữ cho con người luôn tinh tuyền thánh thiện.

Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên


Photo

Post has shared content


Xây trên nền đá (4.12.2014 – Thứ năm Tuần 1 Mùa Vọng)

Khi ấy Chúa Giêsu nói với môn đệ rằng: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bảo táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành.”

Suy niệm:

Sau khi một cơn bão đi qua thành phố,

người ta ngạc nhiên khi thấy những căn nhà sụp đổ

lại là những công trình mới xây chưa được bao lâu.

Còn những công trình xưa lại hiên ngang đứng vững.

Cũng có khi sau một cơn dông,

một cây còn xanh bỗng nhiên ngã đổ.

Người ta lại gần và thấy ruột của cây đã bị mục từ lâu.

Dông bão làm lộ ra sự thật, vén mở chân tướng,

vì khi biển lặng, ai cũng có thể là hoa tiêu.

Đời con người tránh sao khỏi những dông tố.

Ai cũng mong xây căn nhà đời mình cho kiên cố vững vàng,

đứng được trước bão táp phong ba.

Nhà càng cao, nền càng phải chắc chắn.

Xây trên cát hay trên đá cho thấy ai dại, ai khôn.

Thầy Giêsu dạy các môn đệ biết thế nào là xây đời mình trên đá.

Đó là đem ra thực hành những lời Thầy dạy

mà họ đang nghe trong Bài Giảng trên núi (Mt 5-7).

Sống lời Thầy dạy là chọn đi vào con đường hẹp, ít người đi,

với những thách đố và thiệt thòi, những hiểm nguy và nhục nhã.

Chỉ ai dám sống như thế mới đứng vững khi dông bão bất ngờ ập tới.

Lúc ấy người bị coi là ngu vì sống lời Thầy, mới lộ ra là người khôn.

Vì lời của Thầy Giêsu diễn tả ý muốn của Cha trên trời,

nên thi hành lời Thầy cũng là thi hành ý muốn của Cha.

Đây là điều kiện cần thiết để được vào Nước Trời,

vì tuyên xưng trên môi Thầy Giêsu là Chúa, vẫn chưa đủ (c. 21).

Chúng ta đang sống trong Mùa Vọng, mùa ngóng đợi Nước Chúa đến.

Đây là thời gian thuận tiện để suy nghĩ về cái nền của căn nhà mình,

cái nền của những công trình ta đang đầu tư xây dựng.

Có khi chúng ta thấy nó sao quá mong manh.

Chúng ta không đợi đến lúc dông bão mới gia cố nền móng.

Căn nhà của giáo xứ, giáo phận hay Giáo Hội cũng vậy.

Xây nhà cao tầng mà nền không chắc thì nhà dễ nghiêng.

Đối với ngôn sứ Isaia,

“Chính Đức Chúa là Đá Tảng bền vững ngàn năm” (Is 26, 4).

Tin vào Ngài, ta sẽ được bảo vệ chở che và thêm mạnh sức.

Ngoài Đức Chúa, chẳng có gì vĩnh hằng.

Cuộc sống hôm nay có vẻ ổn định hơn xưa.

Thật ra số phận con người hôm nay bấp bênh hơn nhiều.

Chỉ một sai sót nhỏ cũng kéo theo một cuộc khủng hoảng toàn cầu.

Chỉ một tranh chấp nhỏ cũng có thể làm bùng lên một cuộc chiến.

Hãy xây tương lai của xã hội và Giáo Hội trên Đá Tảng.

Hãy xây những dự tính của đời mình trên nền đá.

Nhờ đó những công trình của chúng ta trở thành vĩnh cửu.

Cầu nguyện:

 

Lạy Chúa Giêsu,

con đường dài nhất là con đường từ tai đến tay.

Chúng con thường xây nhà trên cát,

vì chỉ biết thích thú nghe Lời Chúa dạy,

nhưng lại không dám đem ra thực hành.

Chính vì thế

Lời Chúa chẳng kết trái nơi chúng con.

Xin cho chúng con

đừng hời hợt khi nghe Lời Chúa,

đừng để nỗi đam mê làm Lời Chúa trở nên xa lạ.

Xin giúp chúng con dọn dẹp mảnh đất đời mình,

để hạt giống Lời Chúa được tự do tăng truởng.

Ước gì ngôi nhà đời chúng con

được xây trên nền tảng vững chắc,

đó là Lời Chúa,

Lời chi phối toàn bộ cuộc sống chúng con.

 

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu


Gioan baotixita Lê Sỹ Nguyên
Photo

Post has shared content
Tôi sống , nhưng không còn phải là tôi
Là ĐỨC KITÔ sống trong tôi.
Photo

Post has shared content
Vinh danh thiên chúa trên các tầng trời , và bình an dưới thế cho người thiện tâm....
Photo

Post has attachment
Wait while more posts are being loaded