Post has attachment
Bài 23
Phép BẤT ĐỐI CHI ĐỐI
Không đối thành đối , chỉ đối ý đối bóng không đối tiếng

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Bất đối chi đối
- Là phép khoan đối
- Linh hoạt chuyển hai câu thơ từ không đối thành đối

- Mượn hai điển tích để thành đối
- Mượn hai câu thơ của hai tác giả tên tuổi để thành đối

- Hai câu thơ không đối chữ (không đối thanh, không đối từ loại)
- Ý của hai câu thơ phải đối nhau hoặc tương hỗ nhau liền lạc
- Cấu trúc ngữ pháp phải song song đồng dạng nhau.
- Cách đối này người xưa rất thích dùng vì trọng đối ý không trọng đối chữ và có nhắc đến hai điển tích hoặc trích dẫn thơ của hai tác giả tên tuổi khác. Cách đối này những người làm thơ hiện thời rất hiếm dùng.

______________________

Ví dụ 2 câu thơ bất đối chi đối
Trong buổi lễ tế Tướng sỹ trận vong thế kỷ 19, quan tổng trấn Nguyễn Văn Thành có soạn và đọc bài VĂN TẾ TRẬN VONG TƯỚNG SĨ ông còn sai thuộc hạ treo cặp câu đối chữ Hán trưng lên nay dịch nghĩa như sau:

Bóng chiều đã ngả đâu quê cũ
Xưa nay chinh chiến mấy ai về.

- Câu trên trích từ bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.
- Câu dưới trích từ bài Lương Châu Từ của Vương Hàn.
- Hai câu thơ trên chiếu theo phép đối chữ thông thường thì không thấy đối

Nhưng hai câu thơ lại là trích dẫn điển tích từ 2 tác giả tên tuổi. Ý lại đối với nhau, Câu trên đại ý: cảm thán tình cảnh (quê nhà mong đợi người đi chinh chiến trở về). Câu dưới đại ý: an ủi vong linh (chinh chiến tàn khốc người đi chinh chiến, ai cũng đã cam nhận cái chết rồi. Thật là quá hợp với nội dung Tế Trận Vong Tướng Sỹ. cấu trúc ngữ pháp cũng song song đồng dạng với nhau. Vậy là hai câu thơ này đã thành cặp câu thơ Bất đối chi đối rồi.

Cách đối này người xưa rất thích dùng vì trọng đối ý không trọng đối chữ và có nhắc đến hai điển tích hoặc trích dẫn thơ của hai tác giả tên tuổi khác. Cách đối này những người làm thơ hiện thời rất hiếm dùng.

..............//............

Xin đăng lại bài thơ HOÀNG HẠC LÂU của Thôi Hiệu để đối chứng
...
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
...
Dịch nghĩa
...
Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc.
Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại,
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không.
Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một,
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi.
Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Trên sông khói toả, sóng gợn, khiến người sinh buồn!
...
Bản thơ dịch của Phụng Hà
...
Người xưa cưỡi hạc bay xa khuất
Hoàng Hạc bến nầy mái lầu không
Một thuở hạc vàng đi mất hút
Muôn đời mây bạc trôi mênh mông
Hán Dương sông tạnh cây tỏ rạng
Anh Vũ cỏ dày bãi thơm nồng
Bóng chiều đã ngả đâu quê cũ
Sóng giục khách buồn theo khói sông.
...
Lầu Hoàng Hạc ở phía tây nam thành Vũ Xương.

.............//...........

Xin đăng lại bài thơ LƯƠNG CHÂU TỪ của Vương Hàn để đối chứng
...
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
...
Dịch nghĩa
...
Rượu bồ đào cùng với chén lưu ly
Muốn uống nhưng đàn tỳ bà đã giục lên ngựa
Say khướt nằm ở sa trường, anh chớ cười
Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về đâu.
...
Bản thơ dịch của Trần Quan Trân
...
Bồ đào rượu ngát chén lưu ly
Toan nhắp tỳ bà đã giục đi
Say khướt sa trường anh chớ mỉa
Xưa nay chinh chiến mấy ai về.
...
Lương Châu nay thuộc tỉnh Cam Túc, giữa Lan Châu và Vũ Uy, trước đây là nơi hàng bao thế kỷ người Hồ và người Hán đánh nhau. Lương Châu từ là một điệu hát cổ của nói về chuyện trận mạc biên ải. Những điệu hát cổ như: Thượng chi hồi, Chiến thành nam, Thương tiến tửu, Quân mã hoàng, Viễn như kỳ, Hoàng tước hành, Lạc mai hoa, v.v... được các thi nhân thời trước lấy làm đầu đề để sáng tác.

______________________

Ví dụ bài thơ bất đối chi đối của một nhà thơ hiện thời
DANG DỞ MỘNG

Cũng đành dang dở mộng phu thê
Kẻ phũ phàng xa bỏ hẹn thề
Lặng lẽ vườn hương hoài tỏa đượm
Bẽ bàng ong bướm chớ say mê
“Ngoài ba mươi tuổi duyên còn hết?”
"Em biết anh đi chẳng trở về''
Dù tiếng yêu đầu xao xuyến mãi
Cũng đành dang dở mộng phu thê .

Sáng tác 30/9/2014
Tác giả Hạ Băng

“Ngoài ba mươi tuổi duyên còn hết?”
"Em biết anh đi chẳng trở về''

- Câu trên trích từ bài Ngoài ba mươi tuổi của Vũ Hoàng Chương.
- Câu dưới trích từ bài Em biết anh đi chẳng trở về của Anh Bằng
- Hai câu thơ trên chiếu theo phép đối chữ thông thường thì không thấy đối

Nhưng hai câu thơ lại là trích từ 2 bài thơ của 2 tác giả tên tuổi. Ý lại tương hỗ nhau liền lạc, Câu trên đại ý: cảm thán (thân phận hơn nữa đời người cũng đã hết duyên). Câu dưới đại ý: cảm thán (đau khổ vì người tình bỏ ra đi mãi mãi). Thật là quá hợp với nội dung bài thơ tình u hoài nhiều đau khổ. cấu trúc ngữ pháp cũng song song đồng dạng với nhau. Vậy là hai câu thơ này đã thành cặp câu thơ Bất đối chi đối rồi.

Cách đối này người xưa rất thích dùng vì trọng đối ý không trọng đối chữ và có nhắc đến hai điển tích hoặc trích dẫn thơ của hai tác giả tên tuổi khác. Cách đối này những người làm thơ hiện thời rất hiếm dùng.

..............//...............

Xin đăng lại bài thơ NGOÀI BA MƯƠI TUỔI của Vũ Hoàng Chương để đối chứng
...
Nằm say nhựa tỏa cánh xiêu xiêu
Giường thấp nghe trời xuống tịch liêu
Sự nghiệp nào đâu trưa nắng xế
Hoa phai thề ước lá tàn yêu
Ngoài ba mươi tuổi duyên còn hết
Một ván cờ thua ngả bóng chiều
Ai khóc đời ai trên bấc lụi
Đây mùa thu sớm lửa dần thiêu .

.............//...........

Xin đăng lại bài thơ ANH BIẾT EM ĐI CHẲNG TRỞ VỀ của Anh Bằng để đối chứng
...
ANH BIẾT EM ĐI CHẲNG TRỞ VỀ
Thơ Thái Can, Nhạc Anh Bằng, Hát Vũ Khanh
1.
Anh biết em đi chẳng trở về
Dặm ngàn liễu khuất với sương che
Em đừng quay lại nhìn anh nữa
Anh biết em đi chẳng trở về.
...
Không phải vì anh, chẳng tại em
Hoa thu tàn tạ, rụng bên thềm
Ân tình sớm nở, chiều phai úa
Không phải vì anh, chẳng tại em.
...
Bên gốc thông xưa, mình lỡ ghi
Tình ta âu yếm lúc đam mê
Thôi đành xoá lời thề trăng nước
Bên gốc thông xưa, mình lỡ ghi.
2.
Em nhớ nhung chi, giọt hương huyền
Đàn xưa đã lỗi khúc tơ duyên
Tơ trời không đượm tình âu yếm
Em nhớ nhung chi, giọt hương huyền.
...
Không phải vì anh, chẳng tại em
Tình kia sao giữ được muôn vàn
Em đừng giận tình phai úa
Bể cạn sao mờ, núi cũng tan.
...
Anh biết em đi chẳng trở về
Dặm ngàn liễu khuất với sương che
Em đừng quay lại nhìn anh nữa
Anh biết em đi chẳng trở về.

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Kết luận
- Bất đối chi đối
- Tức là: Không đối thành đối

- Mượn hai điển tích để thành đối
- Mượn hai câu thơ của hai tác giả tên tuổi để thành đối

- Hai câu thơ không đối chữ (không đối thanh, không đối từ loại)
- Ý của hai câu thơ phải đối nhau hoặc tương hỗ nhau liền lạc
- Cấu trúc ngữ pháp phải song song đồng dạng nhau.

Người làm thơ theo phép Bất đối chi đối có nghĩa là đã tự nhận thơ của mình không chỉnh đối rồi, có nghĩa là đã tự nhận mình ở thế hạ phong khi vận dụng thi pháp rồi nhưng linh hoạt mượn những yếu tố phụ để thành đối, cho bài có thêm sắc màu thêm âm thanh thêm hình ảnh, cho bài mềm mại mượt mà hơn. Kể cũng lý thú,song thuộc hàng tiểu xảo, hàng hạ thừa, thỉnh thoảng dùng chơi thì được. Nhưng hàng cao minh không nên lạm dụng phép đối này, nhất là người mới tập làm thơ hay làm thơ chưa thật nhuần nhuyễn càng phải tránh vì làm thơ mà đối theo phép Bất đối chi đối chỉ đối ý mà không đối thanh không đối từ loại. Hai câu thơ được coi là chỉnh đối phải hội tụ đủ 3 yếu tố Đối ý Đối thanh Đối từ loại . Dùng phép Bất đối chi đối nếu vận dụng những yếu tố phụ không rành mạch không rõ ràng thì bài thơ lập tức thành Thất đối ngay.

Thơ thất ngôn bát cú Đường luật luôn có hai thế
* Thế thượng phong: Chính luật chính vận chỉnh đối chỉnh họa
* Thế hạ phong : Thứ luật thứ vận bàng đối bàng họa

Do đó đòi hỏi bài thơ phải có đối , đối phải chuẩn , đối phải cân
Vậy khi làm thơ để tránh bị Thất đối người làm thơ tốt nhất là làm theo phép chỉnh đối, trừ trường hợp bí lắm hay muốn đa dạng các phép đối thì mới vận dụng khoan đối . Mà đã muốn làm thơ theo phép khoan đối thì phải hiểu đúng các phép đối cho thật vững nếu không dễ phạm Thất đối. Một bài thơ dù có hay nhưng phạm Thất đối thì không thể chấp nhận được. (Một bài Đường luật mà không có đối giống như một cái bánh trung thu mà không có nhân vậy)

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Paris 28.04.2017
Tác giả: Tuyển Tập Đường Luật

Ƹ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴Ʒ
Photo

Post has attachment
Bài 22
PHÉP PHIẾN ĐỐI
Cách cú đối, Đối cách câu

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Cách cú đối
- Là phép khoan đối
- Linh hoạt đối cách câu

- Vì đối cách câu
- Không đối thanh
- Chỉ đối ý, đối từ loại
______________________

Ví dụ bài thơ tứ tuyệt có 2 cặp phiến đối
CAY TRÀN

Bạn dửng dưng hoài phai sắc mộng
Dòng khơi sóng nổi bão giông đầy
Anh biền biệt mãi sầu mây gió
Ngõ quạnh sương choàng mắt lệ cay.

- Khác với phép đối thông thường
- Ở đây câu 1 đối với câu 3 , câu 2 đối với câu 4
- Vì cách cú đối nên đối không chuẩn về thanh
- Nhưng về ý và từ loại phải đối nhau thật chuẩn

Bạn dửng dưng hoài phai sắc mộng
Anh biền biệt mãi sầu mây gió

Dòng khơi sóng nổi bão giông đầy
Ngõ quạnh sương choàng mắt lệ cay.

______________________

Ví dụ bài thơ phiến đối
NGHĨA MẸ

- Ngũ độ thanh
- Cách cú đối
- Bát vĩ đồng âm
- Bất điệp điệu
- Dáng chữ M

Hoài mang / nghĩa nặng / ở trên đời !
Khó / trả ơn dầy / mẹ hỡi ơi !
Thể hạc mòn / lo phiền / đã với .
Nghiền suy / trí quạnh / phả bao lời ?
Thân tằm héo / nghĩ rầu / chưa vợi .
Ngẫm dự / hồn đau / giữ mấy khơi ?
Một chữ sâu / mà con / hỏi tới .
Dòng châu / mặn đắng / buổi phân rời ..

Paris 22.07.2016
+Soksrey Nữ sĩ Trà Mi

- Khác với phép đối thông thường
- Ở đây câu 3 đối với câu 5 , câu 4 đối với câu 6
- Vì cách cú đối nên đối không chuẩn về thanh
- Nhưng về ý và từ loại phải đối nhau thật chuẩn

Thể hạc mòn / lo phiền / đã với .
Thân tằm héo / nghĩ rầu / chưa vợi .

Nghiền suy / trí quạnh / phả bao lời ?
Ngẫm dự / hồn đau / rũ mấy khơi ?

______________________

Ví dụ bài thơ phiến đối
THẦM HỎI MẸ

- Ngũ độ thanh
- Phiến đối
- Bát vĩ đồng âm
- Bất điệp điệu
- Hình mũi tên

Đạo hiếu/ làm con / phải giữ đời
Muôn trùng lý / vẫn gọi / người ơi
Sinh / gầy thể hạc / thường đưa tới
Trí nguyện đền / công phủ / những lời
Dưỡng / khổ thân cò / luôn hướng đợi
Tâm cầu báo / nghĩa tỏa / nào khơi
Giờ đây muốn trả / lòng than hỡi
Hỏi / Mẹ trời xanh / cớ nỡ rời ..?

Paris 22.07.2016
+Soksrey Nữ sĩ Trà Mi

- Khác với phép đối thông thường
- Ở đây câu 3 đối với câu 5 , câu 4 đối với câu 6
- Vì cách cú đối nên đối không chuẩn về thanh
- Nhưng về ý và từ loại phải đối nhau thật chuẩn

Sinh / gầy thể hạc / thường đưa tới
Dưỡng / khổ thân cò / luôn hướng đợi

Trí nguyện đền / công phủ / những lời
Tâm cầu báo / nghĩa tỏa / nào khơi

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Kết luận
- Phiến đối
- Cách cú đối
- Là phép khoan đối
- Không đối liền nhau
- Mà đối cách bỏ câu
- Do đó đối thanh không chuẩn
- Chỉ chuẩn về đối ý và đối từ loại

- Người làm thơ theo phép Phiến đối có nghĩa là đã tự nhận thơ của mình không chỉnh đối, có nghĩa là đã tự nhận mình ở thế hạ phong khi vận dụng thi pháp nhưng linh hoạt mượn những yếu tố phụ để thành đối, cho bài có thêm sắc màu thêm âm thanh thêm hình ảnh, cho bài mềm mại mượt mà hơn. Kể cũng lý thú,song thuộc hàng tiểu xảo, hàng hạ thừa, thỉnh thoảng dùng chơi thì được. Nhưng hàng cao minh không nên lạm dụng phép đối này, nhất là người mới tập làm thơ hay làm thơ chưa thật nhuần nhuyễn càng phải tránh vì làm thơ mà đối theo phép Phiến đối chỉ đối ý và đối từ loại nhưng không đối thanh nếu vận dụng những yếu tố phụ không rành mạch không rõ ràng thì bài thơ lập tức thành Thất đối ngay.

- Thơ thất ngôn bát cú Đường luật luôn có hai thế
* Thế thượng phong: Chính luật chính vận chỉnh đối chỉnh họa
* Thế hạ phong : Thứ luật thứ vận bàng đối bàng họa

Do đó đòi hỏi bài thơ phải có đối , đối phải chuẩn , đối phải cân
Vậy khi làm thơ để tránh bị Thất đối người làm thơ tốt nhất là làm theo phép chỉnh đối, trừ trường hợp bí lắm hay muốn đa dạng các phép đối thì mới vận dụng khoan đối . Mà đã muốn làm thơ theo phép khoan đối thì phải hiểu đúng các phép đối cho thật vững nếu không dễ phạm Thất đối. Một bài thơ dù có hay nhưng phạm Thất đối thì không thể chấp nhận được. (Một bài Đường luật mà không có đối giống như một cái bánh trung thu mà không có nhân vậy)

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Paris 25.04.2017
Tác giả: Tuyển Tập Đường Luật

Ƹ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴Ʒ
Photo

Post has attachment
Bài 17
PHÉP TÁ SỐ ĐỐI
Số tự đối, Bất đối chi đối,

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Số tá đối
- Đây là phép khoan đối
- Linh hoạt chuyển từ chỗ bất đối thành đối
- Mượn chữ đa chức năng và số từ để thành đối

________________________

Ví dụ bài thơ Tá số đối
mượn số từ, chữ đa chức năng để chuyển bất đối thành đối
TRÁCH PHẬN

- Kỵ đề
- Chơi chữ
- Tiểu đối
- Số tự đối
- Thủ vận: Tường
- Hình cánh tên

Bầu vơi ngẫm chuyện chán thêm chường
Rượu đắng thân buồn khổ vấn vương
Thạo bảy nghề lo hoài thất nghiệp
Rành ba ngã sợ mãi tam đường
Giao bờ quyện bãi tô màn khói
Đối biển hòa trăng vẽ vệt sương
Quạnh quẽ nghèo đau nhìn ảo ảnh
Tường loang vách rệu lạnh đêm trường ..

Paris 20.04.2017
+Soksrey Nữ sĩ Trà Mi

Thạo bảy nghề lo hoài thất nghiệp
Rành ba ngã sợ mãi tam đường

''thất nghiệp'' Động từ kép: không có việc làm để sinh sống
''tam đường'' Danh từ kép: (tam đại đồng đường) ba đời: cha, con, cháu cùng chung sống trong một nhà
- Nếu xét từ kép như vậy một bên không có việc làm, một bên thì không có nghĩa hoặc nghĩa mờ (tam đại đồng đường) thì quả là chúng không liên quan với nhau, xem ra đối rất lỏng lẻo không cân không xứng.
- Nhưng xét theo từ đơn theo nghĩa khác lấy số từ làm chuẩn
''thất'' Số từ , ''nghiệp'' Danh từ , ''thất nghiệp'' bảy nghề
''tam'' Số từ , ''đường'' Danh từ , ''tam đường'' ba đời

- Vậy đó
- Xét theo từ đơn theo nghĩa khác
- Mượn số từ làm chuẩn
- Mượn lối chơi chữ, nghĩa của từ Hán Việt
- Đối nhau rất chỉnh rất cân rất xứng

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Kết luận
- Tá số đối
- Là phép khoan đối
- Bất đối chi đối
- Dựa theo Số từ để thành đối
- Mượn cách thay nhịp câu để thành đối
- Mượn chữ đồng âm dị nghĩa để thành đối

- Người làm thơ theo phép Tá số đối có nghĩa là đã tự nhận thơ của mình không chỉnh đối, có nghĩa là đã tự nhận mình ở thế hạ phong khi vận dụng thi pháp nhưng linh hoạt mượn những yếu tố phụ để thành đối, cho bài có thêm sắc màu thêm âm thanh thêm hình ảnh, cho bài mềm mại mượt mà hơn .
- Nhưng người làm thơ không nên lạm dụng phép đối này, nhất là người mới tập làm thơ hay làm thơ chưa thật nhuần nhuyễn càng phải tránh vì làm thơ mà đối theo phép Tá số đối mà vận dụng những yếu tố phụ không rành mạch không rõ ràng thì bài thơ lập tức thành Thất đối ngay.
- Thơ thất ngôn bát cú Đường luật luôn có hai thế
* Thế thượng phong: Chính luật chính vận chỉnh đối chỉnh họa
* Thế hạ phong : Thứ luật thứ vận bàng đối bàng họa

Do đó đòi hỏi bài thơ phải có đối , đối phải chuẩn , đối phải cân
Vậy khi làm thơ để tránh bị Thất đối người làm thơ tốt nhất là làm theo phép chỉnh đối, trừ trường hợp bí lắm hay muốn đa dạng các phép đối thì mới vận dụng khoan đối . Mà đã muốn làm thơ theo phép khoan đối thì phải hiểu đúng các phép đối cho thật vững nếu không dễ phạm Thất đối. Một bài thơ dù có hay nhưng phạm Thất đối thì không thể chấp nhận được .

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Paris 20.04.2017
Tác giả: Tuyển Tập Đường Luật

Ƹ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴Ʒ
Photo

Post has attachment
Bài 20
PHÉP TỰU CÚ ĐỐI
Đan đối, Đương đối, Bất đối chi đối

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Đương đối
- Là phép khoan đối
- Linh hoạt chuyển từ chỗ bất đối thành đối
- Phép đối này giống như Cú trung đối
- Nhưng trong một câu phép tiểu đối lại không chỉnh.

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Ví dụ bài thơ Tựu cú đối
KỸ NỮ

Đời nhiều cạm bẫy lắm phong ba
Cuộc sống đôi phen chẳng mặn mà
Khách nắm tay thon hòa nhạc điệu
Quan nhìn mắt sáng diễn tình ca
Nghiêng thành đổ nước thời xuân trẻ
Nhạt phấn phai hương buổi hạ già
Mộng đến rồi đi lòng bỏ ngỏ
Ôm vầng nguyệt lạnh góc trời xa.

TD.ST _10/2013

Nghiêng thành đổ nước thời xuân trẻ
Nhạt phấn phai hương buổi hạ già

- Cũng giống như phép Cú trung đối
- Vế sau 2 câu ''thời xuân trẻ'' và ''buổi hạ già'' Đối nhau rất chỉnh
- Câu trên ''nghiêng thành'' và ''đổ nước'' Đối nhau rất chỉnh
- Nhưng câu dưới phép tiểu đối lại không chỉnh.
- ''nhạt'' Tính từ , ''phai'' Động từ : Không thấy đối
- Cấu trúc ngữ pháp của hai câu cũng giống nhau
- Do vậy hai câu thơ như trên đã tự đối với nhau
- Đó là phép Tựu cú đối.

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Kết luận
- Tựu cú đối
- Là phép khoan đối
- Rất giống không có đối
- Phép đối này giống Cú trung đối
- Nhưng trong một câu phép tiểu đối lại không chỉnh.

- Người làm thơ theo phép Tựu cú đối có nghĩa là đã tự nhận thơ của mình không chỉnh đối, có nghĩa là đã tự nhận mình ở thế hạ phong khi vận dụng thi pháp nhưng linh hoạt mượn những yếu tố phụ để thành đối, cho bài có thêm sắc màu thêm âm thanh thêm hình ảnh, cho bài mềm mại mượt mà hơn. Kể cũng lý thú,song thuộc hàng tiểu xảo, hàng hạ thừa, thỉnh thoảng dùng chơi thì được. Nhưng hàng cao minh không nên lạm dụng phép đối này, nhất là người mới tập làm thơ hay làm thơ chưa thật nhuần nhuyễn càng phải tránh vì làm thơ mà đối theo phép Cú trung đối mà vận dụng những yếu tố phụ không rành mạch không rõ ràng thì bài thơ lập tức thành Thất đối ngay.

- Thơ thất ngôn bát cú Đường luật luôn có hai thế
* Thế thượng phong: Chính luật chính vận chỉnh đối chỉnh họa
* Thế hạ phong : Thứ luật thứ vận bàng đối bàng họa

Do đó đòi hỏi bài thơ phải có đối , đối phải chuẩn , đối phải cân
Vậy khi làm thơ để tránh bị Thất đối người làm thơ tốt nhất là làm theo phép chỉnh đối, trừ trường hợp bí lắm hay muốn đa dạng các phép đối thì mới vận dụng khoan đối . Mà đã muốn làm thơ theo phép khoan đối thì phải hiểu đúng các phép đối cho thật vững nếu không dễ phạm Thất đối. Một bài thơ dù có hay nhưng phạm Thất đối thì không thể chấp nhận được .

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Paris 23.04.2017
Tác giả: Tuyển Tập Đường Luật

Ƹ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴Ʒ
Photo

Post has attachment


Bài 19
PHÉP TIỂU ĐỐI
Cú trung đối, Tiểu đối, Trong câu có đối, Tự đối nhau trong câu

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Cú trung đối
- Là phép khoan đối
- Linh hoạt chuyển từ chỗ bất đối thành đối
Phép đối này có vế sau của 2 câu đối nhau rất chỉnh ,
còn vế trước của 2 câu thì tiểu đối ( tự đối nhau )

- Mượn cặp đối nhỏ trong câu để thành đối (Tiểu đối)
- Mượn (Tiểu đối) để đối với (Tiểu đối).
- Cú trung đối bắt buột vế sau (ba chữ cuối) cả 2 câu phải chỉnh đối với nhau.

________________________

Ví dụ 2 câu thơ Cú trung đối

Phòng khuya bóng tẻ hoài mong nhớ
Mộng vỡ tình bay vẫn ngóng chờ

- Ở đây
''Phòng khuya bóng tẻ'' và ''Mộng vỡ tình bay'' không cần đối nhau
- Nhưng
Vế sau: ''hoài mong nhớ'' và ''vẫn ngóng chờ'' đối nhau rất chỉnh
- Và
''phòng khuya'' và ''bóng tẻ'' tự đối nhau rất chỉnh
''mộng vỡ'' và ''tình bay'' tự đối nhau rất chỉnh
- Lấy
(Tiểu đối) để đối với (Tiểu đối).
- Nên
Hai câu thơ trên đã thành Cú trung đối.

________________________

Ví dụ bài thơ Cú trung đối
TRÁCH THÂN

- Kỵ đề
- Tiểu đối
- Yêu vận: đường
- Thủ vận: Tường
- Hình cánh tên

Ngắm cảnh sao lòng đắng quyện vương
Bầu vơi rượu chát quạnh đêm trường
Hòa trăng đối biển rung màn khói
Gió quyện mây lùa vẽ vệt sương
Bảy ngã ba đường đau vẫn gánh
Nhòa ân nhạt ái khổ luôn chường
Tường loang bóng lạnh nhiều tê tái
Ngẫm chuyện trên đời mãi nhiễu nhương ..

Paris 22.04.2017
+Soksrey Nữ sĩ Trà Mi

Hòa trăng đối biển rung màn khói
Gió quyện mây lùa vẽ vệt sương

- Chiếu theo chữ
''Hòa trăng đối biển'' và ''Gió quyện mây lùa'' Không thấy đối
- Nhưng
''Hòa trăng'' và ''đối biển'' tự đối nhau rất chỉnh
- Và
''Gió quyện'' và ''mây lùa'' tự đối nhau rất chỉnh
- Thêm nữa vế sau 3 chữ cuối
''rung màn khói'' và ''vẽ vệt sương'' đối nhau rất chỉnh
- Lấy (tự đối) đối với (tự đối)
- Vậy là 2 câu thơ này đã thành cú trung đối.

Bảy ngã ba đường đau vẫn gánh
Nhòa ân nhạt ái khổ luôn chường

- Chiếu theo chữ
''Bảy ngã ba đường'' và ''Nhòa ân nhạt ái'' Không thấy đối
- Nhưng
''Bảy ngã'' và ''ba đường'' tự đối nhau rất chỉnh
- Và
''Nhòa ân'' và ''nhạt ái'' tự đối nhau rất chỉnh
- Thêm nữa vế sau 3 chữ cuối
''đau mãi gánh'' và ''khổ luôn chường'' Đối nhau rất chỉnh
- Lấy (tự đối) đối với (tự đối)
- Vậy là 2 câu thơ này đã thành cú trung đối.

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Kết luận
- Tiểu đối hay cú trung đối
- Là phép khoan đối
- Từ không đối mà thành đối
- Mượn tiểu đối ứng với tiểu đối để thành đối

- Người làm thơ theo phép Cú trung đối có nghĩa là đã tự nhận thơ của mình không chỉnh đối, có nghĩa là đã tự nhận mình ở thế hạ phong khi vận dụng thi pháp nhưng linh hoạt mượn những yếu tố phụ để thành đối, cho bài có thêm sắc màu thêm âm thanh thêm hình ảnh, cho bài mềm mại mượt mà hơn. Kể cũng lý thú,song thuộc hàng tiểu xảo, hàng hạ thừa, thỉnh thoảng dùng chơi thì được, phép Cú trung đối nếu thiện dụng thì lời nhịp nhàng thêm chắc nịch ý nghĩa càng tôn thêm. Nhưng hàng cao minh không nên lạm dụng phép đối này, nhất là người mới tập làm thơ hay làm thơ chưa thật nhuần nhuyễn càng phải tránh vì làm thơ mà đối theo phép Cú trung đối mà vận dụng những yếu tố phụ không rành mạch không rõ ràng thì bài thơ lập tức thành Thất đối ngay.

- Thơ thất ngôn bát cú Đường luật luôn có hai thế
* Thế thượng phong: Chính luật chính vận chỉnh đối chỉnh họa
* Thế hạ phong : Thứ luật thứ vận bàng đối bàng họa

Do đó đòi hỏi bài thơ phải có đối , đối phải chuẩn , đối phải cân
Vậy khi làm thơ để tránh bị Thất đối người làm thơ tốt nhất là làm theo phép chỉnh đối, trừ trường hợp bí lắm hay muốn đa dạng các phép đối thì mới vận dụng khoan đối . Mà đã muốn làm thơ theo phép khoan đối thì phải hiểu đúng các phép đối cho thật vững nếu không dễ phạm Thất đối. Một bài thơ dù có hay nhưng phạm Thất đối thì không thể chấp nhận được .

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Paris 22.04.2017
Tác giả: Tuyển Tập Đường Luật

Ƹ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴Ʒ
Photo

Post has attachment

Bài 21
PHÉP GIAO CỔ ĐỐI
Đối chéo, Đối tréo cẳng ngỗng, Bất đối chi đối.

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Giao cổ đối
- Là phép khoan đối
- Linh hoạt chuyển từ chỗ bất đối thành đối

- Không đối thanh
- Chỉ đối ý, đối từ loại
- Vế trước của câu trên đối chéo với vế sau của câu dưới
- Vế sau của câu trên đối chéo với vế trước của câu dưới

________________________

Ví dụ 2 câu thơ Giao cổ đối

Chân bước vững đường chiều khấp khểnh
Rừng cây rậm rạp trúc vươn cao.

- Chiếu theo phép đối chữ thông thường Hai câu này không thấy đối
- Nhưng ''chân bước vững'' với ''trúc vươn cao'' đối nhau rất chỉnh
- Và ''đường chiều khấp khểnh'' với ''rừng cây rậm rạp'' đối nhau rất chỉnh
- Vậy hai câu thơ này đã tự Giao cổ đối với nhau.

________________________

Ví dụ bài thơ Giao cổ đối
TRẦM TƯ

- Ngũ độ thanh
- Giao cổ đối
- Bát vĩ đồng âm

Trầm tư vụng nghĩ đến bao giờ?
Bãi lụy mây buồn suối ngẩn ngơ
Sóng kiễng chân, Nhồi thanh giọt thở
Làm tươi quãng đợi, Gió bung bờ
Khai hồn gởi, Mắt ngời vương nợ
Lệ thẫm chan tình, Phủ đáy mơ
Để vạn mùa xuân hồng nỗi nhớ
Đời thơm ngọt ái diễm hương chờ ..

Sáng tác 11-02-2017
Tác giả +Dũng Nguyên

Sóng kiễng chân, Nhồi thanh giọt thở
Làm tươi quãng đợi, Gió bung bờ

- Chiếu theo phép đối chữ thông thường Hai câu này không thấy đối
- Nhưng ''Sóng kiễng chân'' với ''Gió bung bờ'' đối nhau rất chỉnh
- Và ''Nhồi thanh giọt thở'' với ''Làm tươi quãng đợi'' đối nhau rất chỉnh
- Vậy hai câu thơ này đã tự Giao cổ đối với nhau.

Khai hồn gởi, Mắt ngời vương nợ
Lệ thẫm chan tình, Phủ đáy mơ

- Chiếu theo phép đối chữ thông thường Hai câu này không thấy đối
- Nhưng ''Khai hồn gởi'' với ''Phủ đáy mơ'' đối nhau rất chỉnh
- Và ''Mắt ngời vương nợ'' với ''Lệ thẫm chan tình'' đối nhau rất chỉnh
- Vậy hai câu thơ này đã tự Giao cổ đối với nhau.

________________________

Ví dụ bài thơ Giao cổ đối
THƯ GỬI CỐ NHÂN

- Ngũ độ thanh
- Giao cổ đối
- Hình mũi tên

Bút mực hòa câu hỏi mãi giờ
Ai người vướng lụy để hồn ngơ
Gìn khung cảnh / gió Tây lời vọng
Đất Việt vần buông / giữ khoảng bờ
Đắng hạnh quành / yên bình tĩnh đảo
Trầm tư khuất rẻo / quạnh tình mơ
Sao còn quãng đợi hoài xuân tiếp
Để khách lìa quê dạ ngẫm chờ ..

Paris 12.02.2017
+Soksrey Nữ sĩ Trà Mi

Gìn khung cảnh / gió Tây lời vọng
Đất Việt vần buông / giữ khoảng bờ

- Chiếu theo phép đối chữ thông thường Hai câu này không thấy đối
- Nhưng ''gìn khung cảnh'' với ''giữ khoảng bờ'' đối nhau rất chỉnh
- Và ''gió Tây lời vọng'' với ''đất Việt vần buông'' đối nhau rất chỉnh
- Vậy hai câu thơ này đã tự Giao cổ đối với nhau.

Đắng hạnh quành / yên bình tĩnh đảo
Trầm tư khuất rẻo / quạnh tình mơ

- Chiếu theo phép đối chữ thông thường Hai câu này không thấy đối
- Nhưng ''yên bình tĩnh đảo'' với ''quạnh tình mơ'' đối nhau rất chỉnh
- Và ''Mắt ngời vương nợ'' với ''trầm tư khuất rẻo'' đối nhau rất chỉnh
- Vậy hai câu thơ này đã tự Giao cổ đối với nhau.

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Kết luận
- Giao cổ đối
- Là phép khoan đối
- Từ không đối mà thành đối
- Mượn tiểu đối ứng với tiểu đối để thành đối

- Người làm thơ theo phép Cú trung đối có nghĩa là đã tự nhận thơ của mình không chỉnh đối, có nghĩa là đã tự nhận mình ở thế hạ phong khi vận dụng thi pháp nhưng linh hoạt mượn những yếu tố phụ để thành đối, cho bài có thêm sắc màu thêm âm thanh thêm hình ảnh, cho bài mềm mại mượt mà hơn. Kể cũng lý thú,song thuộc hàng tiểu xảo, hàng hạ thừa, thỉnh thoảng dùng chơi thì được. Nhưng hàng cao minh không nên lạm dụng phép đối này, nhất là người mới tập làm thơ hay làm thơ chưa thật nhuần nhuyễn càng phải tránh vì làm thơ mà đối theo phép Giao cổ đối chỉ đối ý và đối từ loại nhưng không đối thanh nếu vận dụng những yếu tố phụ không rành mạch không rõ ràng thì bài thơ lập tức thành Thất đối ngay.

- Thơ thất ngôn bát cú Đường luật luôn có hai thế
* Thế thượng phong: Chính luật chính vận chỉnh đối chỉnh họa
* Thế hạ phong : Thứ luật thứ vận bàng đối bàng họa

Do đó đòi hỏi bài thơ phải có đối , đối phải chuẩn , đối phải cân
Vậy khi làm thơ để tránh bị Thất đối người làm thơ tốt nhất là làm theo phép chỉnh đối, trừ trường hợp bí lắm hay muốn đa dạng các phép đối thì mới vận dụng khoan đối . Mà đã muốn làm thơ theo phép khoan đối thì phải hiểu đúng các phép đối cho thật vững nếu không dễ phạm Thất đối. Một bài thơ dù có hay nhưng phạm Thất đối thì không thể chấp nhận được .

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Paris 23.04.2017
Tác giả: Tuyển Tập Đường Luật

Ƹ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴Ʒ
Photo

Post has attachment
Bài 18
PHÉP LƯU THỦY ĐỐI
Nước chảy thành đối, Bất đối chi đối,

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Lưu thủy đối
- Là phép khoan đối
- Linh hoạt chuyển từ chỗ bất đối thành đối
- Mượn cặp chữ biểu thị tương hỗ để thành đối
- Mượn cấu trúc ngữ pháp giống để thành đối

Điều kiện để 2 câu thơ thành lưu thủy đối
- Câu trên biểu thị nguyên nhân sự việc, câu hỏi vấn đề
- Câu dưới biểu thị kết quả sự việc, hướng trả lời vấn đề
- Ý hai câu liền lạc nhau, câu dưới bổ sung ý của câu trên
- 4 chữ đầu của 2 câu có quyền bất đối
- 2 chữ cuối của 2 câu bắt buột chỉnh đối
- Chữ đầu của 2 câu bắt buột là cặp từ tương hỗ
- Những cặp từ tương hỗ như: (Thôi-Để), (Bởi-Nên), (Đã-phải), (Còn chăng-Hay đã), (Có phải-Hay là), (Bởi lẽ-Làm cho), (Bởi vì-Cho nên), (Đã sinh-Phải có), (Bỗng dưng-Để mà), (Đã mang-Phải có), (Đã vậy-Cho nên) ... ...

__________________________

Ví dụ cặp thơ Lưu thủy đối

Bởi chẳng toàn tâm bài khách hỡi
Nên đành thất đối vậy người ơi

toàn tâmthất đối Không có đối
bàivậy Không có đối

Nhưng
- 2 chữ cuối của cả 2 câu rất chỉnh đối khách hỡingười ơi
- 2 chữ đầu của 2 câu phải đúng là cặp từ tương hỗ Bởi chẳngNên đành
- Ý của câu trên nêu nguyên nhân sự việc Bởi chẳng , ý câu dưới trả lời kết quả cho sự việc Nên đành , Ý của 2 câu tương hỗ bổ sung cho nhau, liền lạc trôi chảy, nhẹ nhàng như nước đầu nguồn tuôn vào lòng suối nên đã thành Lưu thủy đối.

__________________________

Ví dụ cặp câu thơ Lưu thủy đối

Còn chăng lời hẹn bên trang sách.
Hay đã tàn theo ánh lửa đèn.

Chiếu theo quy tắc đối chữ
''lời hẹn'' Danh từ + Động từ
''tàn theo'' Tính từ +Động từ
Quả thật hai câu này bất đối

Nhưng lại xét 2 câu này:
- Cấu trúc ngữ pháp giống nhau
- 2 chữ cuối của 2 câu rất chỉnh đối ''trang sách-lửa đèn''
- Chữ đầu của 2 câu là cặp từ tương hỗ ''Còn chăng-Hay đã''
- Ý của câu dưới tương hỗ bổ sung cho câu trên, ý của 2 câu cứ liền lạc trôi chảy, nhẹ nhàng như nước đầu nguồn tuôn vào lòng suối.

__________________________

Ví dụ bài thơ Lưu thủy đối
CÒ MỔ TRAI
(Nguyễn Khuyến)
Trai sao chẳng biết tính con cò
Mày hở hang chi nó mổ cho
Đã cậy dày mu không khép kín
Cho nên dài mỏ chực ăn to
Thôi về bãi bể cho êm ái
Để mặc bên sông nó gật gù
Cò trắng dẫu khôn đành gác mỏ
Trai già chờ lúc lại phơi mu.

Đã cậy dày mu không khép kín
Cho nên dài mỏ chực ăn to

Chiếu theo quy tắc đối chữ
''cậy'', ''nên'' Không thấy đối
''không'' , ''chực'' Không thấy đối

Thôi về bãi bể cho êm ái
Để mặc bên sông nó gật gù

Chiếu theo quy tắc đối chữ
''về'', ''mặc'' Không thấy đối
''bãi'' , ''bên'' Không thấy đối
''cho'' , ''nó'' Không thấy đối

Nhưng lại xét 2 câu này:
- Cấu trúc ngữ pháp giống nhau
- 2 chữ cuối của 2 câu rất chỉnh đối
- ''khép kín-ăn to'' , ''êm ái-gật gù''
- Câu trên nêu nguyên nhân của sự việc, câu dưới nêu hậu quả của sự việc.
- Chữ đầu của 2 câu là cặp từ tương hỗ ''Đã vậy-Cho nên'' , ''Thôi-Để''
- Ý của câu dưới tương hỗ bổ sung cho câu trên, ý của 2 câu cứ liền lạc trôi chảy, nhẹ nhàng như nước đầu nguồn tuôn vào lòng suối nên đã thành Lưu thủy đối.

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Kết luận
- Lưu thủy đối
- Là phép khoan đối
- Từ không đối mà thành đối
- Dựa theo cặp từ tương hỗ để thành đối
- Mượn ý của 2 câu bổ sung cho nhau liền lạc như nước chảy để thành đối

- Người làm thơ theo phép Lưu thủy đối có nghĩa là đã tự nhận thơ của mình không chỉnh đối, có nghĩa là đã tự nhận mình ở thế hạ phong khi vận dụng thi pháp nhưng linh hoạt mượn những yếu tố phụ để thành đối, cho bài có thêm sắc màu thêm âm thanh thêm hình ảnh, cho bài mềm mại mượt mà hơn. Kể cũng lý thú,song thuộc hàng tiểu xảo, hàng hạ thừa, thỉnh thoảng dùng chơi thì được, phép Lưu thủy đối nếu thiện dụng thì lời thơ trôi chảy,nhẹ nhàng như nước đầu nguồn tuôn vào lòng suối. Nhưng hàng cao minh không nên lạm dụng phép đối này, nhất là người mới tập làm thơ hay làm thơ chưa thật nhuần nhuyễn càng phải tránh vì làm thơ mà đối theo phép Lưu thủy đối mà vận dụng những yếu tố phụ không rành mạch không rõ ràng thì bài thơ lập tức thành Thất đối ngay.

- Thơ thất ngôn bát cú Đường luật luôn có hai thế
* Thế thượng phong: Chính luật chính vận chỉnh đối chỉnh họa
* Thế hạ phong : Thứ luật thứ vận bàng đối bàng họa

Do đó đòi hỏi bài thơ phải có đối , đối phải chuẩn , đối phải cân
Vậy khi làm thơ để tránh bị Thất đối người làm thơ tốt nhất là làm theo phép chỉnh đối, trừ trường hợp bí lắm hay muốn đa dạng các phép đối thì mới vận dụng khoan đối . Mà đã muốn làm thơ theo phép khoan đối thì phải hiểu đúng các phép đối cho thật vững nếu không dễ phạm Thất đối. Một bài thơ dù có hay nhưng phạm Thất đối thì không thể chấp nhận được .

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Paris 21.04.2017
Tác giả: Tuyển Tập Đường Luật

Ƹ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴Ʒ

Photo

Post has attachment

Bài 17
PHÉP TÁ SỐ ĐỐI
Số tự đối, Bất đối chi đối,

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Số tá đối
- Đây là phép khoan đối
- Linh hoạt chuyển từ chỗ bất đối thành đối
- Mượn chữ đa chức năng và số từ để thành đối

__________________________

Ví dụ bài thơ Tá số đối
mượn số từ, chữ đa chức năng để chuyển bất đối thành đối
TRÁCH PHẬN

- Kỵ đề
- Chơi chữ
- Tiểu đối
- Số tự đối
- Thủ vận: Tường
- Hình cánh tên

Bầu vơi ngẫm chuyện chán thêm chường
Rượu đắng buồn thân khổ vấn vương
Thạo bảy nghề lo hoài thất nghiệp
Rành ba ngã sợ mãi tam đường
Giao bờ quyện bãi tô màn khói
Đối biển hòa trăng vẽ vệt sương
Quạnh quẽ nghèo đau nhìn ảo ảnh
Tường loang vách rệu lạnh đêm trường ..

Paris 20.04.2017
+Soksrey Nữ sĩ Trà Mi

Thạo bảy nghề lo hoài thất nghiệp
Rành ba ngã sợ mãi tam đường

''thất nghiệp'' Động từ kép: không có việc làm để sinh sống
''tam đường'' Danh từ kép: (tam đại đồng đường) ba đời: cha, con, cháu cùng chung sống trong một nhà
- Nếu xét từ kép như vậy một bên không có việc làm, một bên thì không có nghĩa hoặc nghĩa mờ (tam đại đồng đường) thì quả là chúng không liên quan với nhau, xem ra đối rất lỏng lẻo không cân không xứng.
- Nhưng xét theo từ đơn theo nghĩa khác lấy số từ làm chuẩn
''thất'' Số từ , ''nghiệp'' Danh từ , ''thất nghiệp'' bảy nghề
''tam'' Số từ , ''đường'' Danh từ , ''tam đường'' ba đời

- Vậy đó
- Xét theo từ đơn theo nghĩa khác
- Mượn số từ làm chuẩn
- Mượn lối chơi chữ, nghĩa của từ Hán Việt
- Đối nhau rất chỉnh rất cân rất xứng

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Kết luận
- Tá số đối
- Là phép khoan đối
- Bất đối chi đối
- Dựa theo Số từ để thành đối
- Mượn cách thay nhịp câu để thành đối
- Mượn chữ đồng âm dị nghĩa để thành đối

- Người làm thơ theo phép Tá số đối có nghĩa là đã tự nhận thơ của mình không chỉnh đối, có nghĩa là đã tự nhận mình ở thế hạ phong khi vận dụng thi pháp nhưng linh hoạt mượn những yếu tố phụ để thành đối, cho bài có thêm sắc màu thêm âm thanh thêm hình ảnh, cho bài mềm mại mượt mà hơn .
- Nhưng người làm thơ không nên lạm dụng phép đối này, nhất là người mới tập làm thơ hay làm thơ chưa thật nhuần nhuyễn càng phải tránh vì làm thơ mà đối theo phép Tá số đối mà vận dụng những yếu tố phụ không rành mạch không rõ ràng thì bài thơ lập tức thành Thất đối ngay.
- Thơ thất ngôn bát cú Đường luật luôn có hai thế
* Thế thượng phong: Chính luật chính vận chỉnh đối chỉnh họa
* Thế hạ phong : Thứ luật thứ vận bàng đối bàng họa

Do đó đòi hỏi bài thơ phải có đối , đối phải chuẩn , đối phải cân
Vậy khi làm thơ để tránh bị Thất đối người làm thơ tốt nhất là làm theo phép chỉnh đối, trừ trường hợp bí lắm hay muốn đa dạng các phép đối thì mới vận dụng khoan đối . Mà đã muốn làm thơ theo phép khoan đối thì phải hiểu đúng các phép đối cho thật vững nếu không dễ phạm Thất đối. Một bài thơ dù có hay nhưng phạm Thất đối thì không thể chấp nhận được .

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Paris 20.04.2017
Tác giả: Tuyển Tập Đường Luật

Ƹ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴Ʒ
Photo

Post has attachment
Bài 3
THANH BẰNG VÀ THANH TRẮC TRONG THƠ TIẾNG VIỆT
Tiếng Việt có 6 dấu thanh là : Sắc , Huyền , Hỏi , Ngã , Nặng , Phù
Thanh dấu chia làm 2 nhóm thanh là Thanh Bằng và Thanh Trắc

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Thanh bằng
Thanh bằng là thanh điệu bằng phẳng, không có sự cao giọng hay thấp giọng khi đọc. Thanh bằng là tất cả những chữ có dấu thanh là Huyền và Phù

Huyền (dấu huyền) Vd: cà, sàn, đầm, bằng, bà, bàn, …
Phù (Không dấu thanh ngang) Vd: cam, xuân, đông, công ty, mưa xuân,…


Thanh trắc
Thanh trắc là thanh điệu không bằng phẳng. Thanh này có âm diệu diễn biến phức tạp trong thanh điệu. Thanh Trắc là tất cả những chữ có dấu thanh là Sắc , Hỏi , Ngã , Nặng

Sắc(dấu sắc) Vd: khá lớn, bí quyết, chính thức, sáng sớm,…
Hỏi (dấu hỏi) Vd: vả lại, hỏi han, cảm cúm, cảng biển, cảnh đẹp, hổn hểnh ...
Ngã (dấu ngã) Vd: ngã, vẽ, xã, mãn nhãn, sững sờ,…
Nặng (dấu nặng) Vd: lạ đời, chợ xuân, lợi ích, lạm dụng, trục trặc ...

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Paris 10/03/2017
Tuyển Tập Đường Luật

Ƹ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴Ʒ
Photo

Post has attachment
Bài 2
CẤU TRÚC CÂU CỦA THƠ ĐƯỜNG LUẬT
••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••


Thơ thất ngôn bát cú
Có quy định số tiếng có thanh Trắc và số tiếng có thanh Bằng
Theo chính luật trong một câu (4Bằng 3Trắc) hoặc (4Trắc 3Bằng)
Cho phép làm thơ theo thứ luật , nhưng không cho phép phá hỏng cấu trúc câu
Ví dụ trong một câu (5Bằng 2Trắc) hoặc (5Trắc 2Bằng) là sái cấu trúc câu
Khi một bài thơ bị sái cấu trúc câu thì bài thơ đó không phải là thơ Đường Luật .

Ví dụ trường hợp thơ Sái cấu trúc câu
Đèo Ba Dội
...
Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo. (Hồ Xuân Hương)

Xét câu 7: Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Câu này có tới 5Bằng (hiền , nhân , quân , ai , là . chẳng) nhưng chỉ có 2Trắc (tử , chẳng)
Bài thơ này không đạt , không phải thơ Đường luật vì Sái cấu trúc câu
Bài thơ dù có ý hay nhưng không thể chấp nhận được , bài thơ này chỉ có thể tạm gọi là thơ Thất ngôn cổ phong mà thôi .

______________________________

Lời khuyên : Để tránh và hạn chế tối đa bị phạm Sái cấu trúc câu khi làm thơ Đường luật tốt nhất là làm thơ theo đúng chính luật sẽ không bao giờ phạm Sái cấu trúc câu , làm thơ theo đúng chính luật vừa hay vừa có nhịp điệu , còn khi làm thơ theo thứ luật thì nên nhớ trước câu thơ đó theo chính luật có mấy Bằng mấy Trắc rồi theo đó mà giữ cho đúng , dù là làm thơ theo thứ luật nhưng vẫn giữ đúng số tiếng Bằng và số tiếng Trắc trong một câu thơ .

••••••••••••••••••••√•••••••••••••••••••••

Paris 10/03/2017
Tuyển Tập Đường Luật

Ƹ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴ƷƸ̴Ӂ̴Ʒ
Photo
Wait while more posts are being loaded