Post is pinned.Post has attachment
🌹Mùng 4 tháng 4 KỶ NIỆM NGÀY VÍA ĐỨC VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT🌹
SỰ TÍCH ĐỨC VĂN THÙ
🏯Văn Thù Sư Lợi hay Mạn-Thù-Thất-Lợi là tiếng Ấn Độ, Tàu dịch là Diệu Cát Tường nghĩa là tất cả diệu sự thế gian hay xuất thế gian đều do trí tuệ mà có. Cát Tường nghĩa là an lành.
Thời Phật Thích Ca ở Ấn Độ, Ngài thuộc giòng Bà-la-môn, phái Tịnh Hạnh, ở làng Dala nước Xá Vệ, theo Phật học đạo, đứng địa vị một đệ tử thượng thủ trong hàng tại gia. Người ta thường gọi Ngài là đồng tử vì Ngài không lập gia đình, chuyên tu Bồ-tát đạo. Ngày nay tượng Bồ-tát Văn Thù thờ chầu bên phải Đức Phật tiêu biểu cho trí tuệ. Tượng Bồ-tát Phổ Hiền chầu bên trái tiêu biểu đại hạnh. Cho nên biết rằng thời Phật tại thế, hai vị có trách nhiệm trợ hóa về giáo lý đại thừa.
Trong Kinh Phong Bát, Đức Thế Tôn dạy rằng: “Ta thành Phật là nhờ ơn Văn Thù. Vô số Phật quá khứ đã là đệ tử của Văn Thù. Chư Phật vị lai cũng phải nương nhờ trí tuệ Bồ-tát mới thành tựu”. Cho nên Văn Thù được coi là cha mẹ chư Phật.
Về tôn dung của Bồ-tát Văn Thù người ta tạc tượng Ngài đỉnh đầu có 5 búi tóc, tượng trưng 5 trí của Phật (nhất thiết chủng trí, đại viên kính trí, bình đẳng tánh trí, diệu quan sát trí, thành sở tác trí). Tay cầm gươm biểu hiện trí tuệ có khả năng chém chặt tất cả phiền não chướng ngại. Ngài cưỡi sư tử vì trí tuệ là chúa tất cả công năng cũng như sư tử là chúa muôn loài. Hình tượng phần nhiều hiện tướng cư sĩ nhưng ở Trung Hoa, Nhật Bản và các nước đại thừa, tại những Tăng-đường, Trai-đường và các giới đàn đều có thờ đức Văn Thù với hình tướng Tỳ-kheo.
Trong Kinh Bà Sa Ni, Bồ-tát Văn Thù tự nói: “Các quốc vương, các quân sĩ ra trận nếu viết phù câu đà-la-ni của Ta lên đỉnh đầu và luôn luôn tưởng niệm thì không bị hại. Nếu vẽ tượng Văn Thù cưỡi sư tử vào lá cờ cho vác đi trước, giặc sẽ tan”. Cho nên biết rằng đỉnh lễ đức Văn Thù, không những chúng ta tưởng niệm đến trí tuệ Bát-Nhã là nền tảng của đạo Phật mà chúng ta còn được oai thần Bồ-tát gia hộ cho được bình an tinh tấn tu hành để sớm thành công mãn quả.
NHỮNG CÂU CHUYỆN LINH CẢM
– Giải Thoát Hòa-thượng, người huyện Ngũ Đài, 7 tuổi xuất gia. Về sau tới Đông Nam Đài, chùa Cổ Đại Phù, học kinh Hoa Nghiêm, cầu đức Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát gia hộ. Được Ngài hiện thân, tự miệng dạy rằng: “Ngươi lễ ta làm gì, hãy tự hối trách ắt sẽ đại ngộ”. Sau nhân hồi quang tự phản chiếu, bèn ngộ vô sanh và được pháp hỷ. Sau thương mình độc thiện, mong lợi ích chúng sanh, lại thiết tha khẩn nguyện đức Văn Thù. Bỗng thấy chư Phật hiện thân nói kệ:
“Phật pháp tịch diệt thậm thâm
Khoáng kiếp tu hành nay mới được
Nếu có thể rộng mở pháp nhãn này
Tất cả chư Phật đều tùy hỷ”.
Quan đô đốc Châu Thường Bản thỉnh Sư truyền giới. Khi tiễn chân Ngài về đến Thành Đông, trời chiều, nghĩ đến thắp hương. Cả đại chúng đều nghe hư không có tiếng nói: “Chắp tay là búp hoa, thân là bát hương, thiện tâm là chân thật, hương theo lời tán thán tỏa khói bay, chư Phật tới hộ trì. Đại chúng cần tinh tấn trọn chẳng nên nghi ngờ”. Ai cũng nghĩ rằng đây là Đại Thánh hóa thân. Đức rộng độ sanh hiển hiện chưa từng có.
– Tăng Già Di Đa La người Ấn Độ, đã chứng A-na-hàm. Cao Tông Đại-đế rất tôn trọng, thỉnh vào cung cúng dàng.
Đa La xin cho đi tìm các thánh tích đức Văn Thù ở núi Thanh Lương để lễ bái. Nhân ra phương Tây, đến chùa Thái Nguyên thấy chư Tăng chuyên học kinh Hoa Nghiêm, Ngài hoan hỷ chắp tay nói rằng: “Kinh này có công đức khó nghĩ bàn. Bên Ấn Độ tương truyền rằng ai đọc Kinh này, nước rửa tay nhỏ thấm xuống trùng kiến, nó xả mệnh sẽ được sinh thiên”.
– Hư Vân đại sư người Trung Hoa là một Thánh Tăng của thế kỷ thứ 20 chúng ta. Bà mẹ đã lớn tuổi, cầu Tam-bảo được Ngài là con duy nhất. Ngài sinh ra trong cái bọc. Bà mẹ sợ hãi quá, đứng tim, liền chết. Ông bố sai vứt quái thai đi. Bỗng có một vị Tăng tới khuyên gia nhân xé bọc ra được Ngài.
Lớn lên xuất gia, Ngài phát nguyện tới Ngũ Đài Sơn lễ đức Văn Thù cầu siêu cho mẹ. Ngài đi một bước lạy một lạy nên hành trình trải qua nhiều năm. Bữa kia, mưa tuyết phủ trắng, Ngài lập cập vừa run vừa bước. Bỗng có một thanh niên ở đâu hiện ra, xin đeo hành lý dùm để Ngài lễ lạy đỡ vất vả. Lại có khi, đường dài không người, Ngài mệt lả, bỗng có cái quán bên đường, có người thanh niên vui vẻ đỡ hành lý, mời Ngài vào quán, bốc tuyết nấu cháo cho Ngài ăn đỡ đói, đỡ rét. Còn rất nhiều sự kỳ lạ đã xảy ra để giúp Ngài Hư Vân thoát bao nhiêu tai nạn.
Cuối cùng khi Ngài viên mãn chí nguyện mới được tiết lộ là chính đức Văn Thù đã hiện thân giúp Ngài suốt dọc đường.
Nhật ký của Ngài Hư Vân có ghi chép rõ ràng mỗi ngày mỗi ngày và đã được dịch sang tiếng Việt Nam. Nên những chuyện kể trên các Phật-tử số đông đều biết rõ.
– Đời Hậu Ngụy, một Sa-môn đội kinh Hoa Nghiêm vào núi Thanh Lương cầu đức Văn Thù gia hộ. Được một năm, chân nát máu chảy, thịt thủng tận xương. Hốt nghe hư không có tiếng nói: “Hãy dừng lại, suy ngẫm kinh này”.
Nhân đó mở sách đọc, thoạt nhiên đại ngộ. Sau ở lại chùa Thanh Lương, kính tạo Hoa Nghiêm luận diễn nghĩa, lời văn cùng triệt, nghĩa lý đỗng áo. Sau về chùa Trung Nham (cũng ở dãy Ngũ Đài Sơn) viết luận cả 100 quyển.
– Tăng Pháp Thuận họ Đỗ, người Kinh Triệu, xã Lăng Nhân, tiết tháo cao khiết, theo học sư Vô Thường, lấy Hoa Nghiêm làm sự nghiệp, thường ở núi. Muốn trồng cây độc quỳ, đất nhiều trùng kiến, bèn ngồi định để đối trị, trùng bò đi hết. Tận lực cày bừa khai khẩn mà không tổn hại một vật nào.
Có người ở huyện Tam Nguyên sinh ra đã điếc câm, Ngài gọi tới nói chuyện, người ấy liền khỏi tật. Ngài tới núi phía Nam, có dòng nước chảy ngang tràn trề. Ngài ngăn dòng nước đứng lại, nước tuy vẫn chảy nhưng từ đấy có thể đi bộ bước qua.
Ngày lâm chung, Ngài hội những người có duyên, dạy một câu: “Âm thanh sắc tướng chớ ham”. Hiện nay toàn thân trong tháp ở phía Nam, chùa Hoa Nghiêm vẫn còn. Dân chúng tin đấy là đại thánh Văn Thù hóa thân.
– Đời Bắc Tề, năm Thái Hòa, Vương-tử thứ 3 vào núi Thanh Lương thiêu thân cúng dường Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát. Một vị quan hầu tên Khiêm Chi đích mắt thấy sự việc, xin Vua cho vào núi tu đạo, chỉ đem theo một bộ kinh Hoa Nghiêm. Ngày đêm tinh cần lễ đức Văn Thù, cầu thầm gia hộ. Hết lương thực, 21 ngày chỉ uống nước lã, hình khí tuy ốm đi nhưng nét mặt hồng hào. Hốt cảm râu tóc rụng hết, hiện tướng trượng phu, tâm thần thông ngộ, đỗng hiểu ý chỉ thâm áo, tinh tu không nghỉ, viết luận Hoa Nghiêm 600 quyển. Vua Cao Tổ hay biết, kính tin bội phần. Giáo lý Hoa Nghiêm do đây truyền thịnh.
(Tôn sư Hải Triều Âm trích dẫn trong Hoa Nghiêm Sớ Sao của Thanh Lương Quốc Sư)
Photo

Post has attachment
 CÕI DIỆU KHÔNG

Tánh Thiện 



Niết Bàn chẳng có ở cõi trên

Đừng cầu van vái mãi mong lên

Mò trăng dưới nước thêm mệt xác

Tuỳ duyên mà sống đạo còn hơn


Địa ngục chẳng trong lòng đất lạnh

Không gì phải sợ nghĩ loanh quanh

Hạnh phúc trong ta từng giây phút

Bỏ ác làm lành sống vô tranh


Tu tập vững rồi rõ pháp không

Tháng ngày lặng lẽ bước thong dong

Đường ta ta cứ đi đi mãi

Chẳng cầu cũng đến Cõi Diệu Không .

                   

Photo

Post has attachment
NGỒI YÊN

Tánh Thiện



Chánh nhân Phật Tánh bây giờ

Ở đây hiển hiện chẳng chờ ai cho

Ta không ham muốn chức to

Chỉ mong buông bỏ đắn đo đời mình 

Duyên nhân là bước hành trình

Rong chơi thiền lộ đạo tình sẻ chia

Nhớ về ngày đó canh khuya

Hô canh thức chúng chuông vang ngắn dài

Ngồi yên trước tượng Phật đài

Ôi ! Sao hạnh phúc từng ngày tháng qua

Bây giờ ta cũng là ta

Chánh tà tự biết Phật Đà tự tu 

Photo

Post has shared content
Thuyết pháp chỉ biết làm thơ
Bởi vì pháp ấy như thơ khác nào
Cũng như trăng sáng trên cao
Cũng như dòng suối tuôn trào ngàn sau.

Pháp Hỷ Xã đẹp xiết bao
Đẹp hơn tất cả vì sao trên trời
Từ Bi Trí Tuệ sáng ngời
Nghe lời kinh Phật tu thời thảnh thơi.

Cuộc đời hay cuộc rong chơi
Sống theo pháp Phật suốt đời bình an
Biết rỏ nghiệp quả muôn vàn
Chẳng sanh ham muốn chổ an đây rồi.

Sân si gốc rể tỏ rồi
Mỗi khi duyên pháp, chẳng trồi mê Tâm
Niết bàn rõ hết chẳng lầm
Vô minh vốn giả, si Tâm mất rồi.

Vạn pháp rõ biết tuyệt vời
Vô tâm ứng cảnh ô hay! Niết bàn.

Nam mô a di đà phật 🌹🍀🌹

St
Photo

Post has attachment
KHÔNG THIỆN – KHÔNG ÁC

Có Người dạy “Tu” là chỉ lo giữ tâm sao cho đừng khởi niệm để đạt được đạo, tức cốt lõi của việc tu là giữ tâm thanh tịnh. Mà muốn giữ tâm thanh tịnh thì đúng, sai, thiện, ác đều buông bỏ vì đó là động tâm, động niệm (dù niệm dữ hay niệm lành, chẳng hạn như khởi lòng từ bi, thương người cũng không tốt). Nói vậy là đã cắt xén lời Phật dạy, tức đã bỏ mất phần “Nhân” mà chỉ nhắm tới phần “Quả” nên mới cho rằng thiện ác đừng làm.

Trong khi Đức Phật dạy rất rõ ràng:

Dứt các việc ác
Làm các điều lành
Thanh tịnh tâm ý
Lời Chư Phật dạy.

Tức là “Dứt các điều ác, làm các điều lành” là nhân, còn “Thanh tịnh tâm ý” là quả. Cũng bởi nơi mỗi con người luôn có hai khuynh hướng, hoặc là thiện hoặc là ác chứ không có trạng thái không thiện không ác. Cho nên, Đức Phật vô cùng sâu sắc khi dạy rằng:”Nếu không muốn làm ác thì phải tích cực làm toàn điều thiện. Và từ đó mới xuất hiện kết quả là tâm thanh tịnh”.

Và một người tu tập đầy đủ hai điều “Dứt ác – làm lành” thì khi tâm được thanh tịnh họ sẽ có một nội tâm vô cùng thuần thiện. Nghĩa là nếu không khởi niệm thì thôi, còn như phải động tâm thì họ chỉ vì điều thiện mà khởi. Chẳng hạn như khởi tâm thương yêu, đau xót trước cảnh khổ của chúng sinh, hay khởi tâm suy nghĩ về đạo lý, khởi tâm muốn làm cái gì đó đem được lợi ích cho cuộc đời, v.v...Ngoài ra trong tâm họ không còn một ý niệm tham lam, xấu, ác nào dù là hạt bụi. Sau cùng, người này sẽ phát tâm mạnh mẽ tiếp tục làm nhiều việc tốt hơn nữa bằng con đường Bồ tát đạo để đi tới chỗ Vô ngã – Niết bàn, như trong Sa Di luật có ghi:

“Tuy dứt hết các ác, nhưng phải làm các việc thiện để giúp chúng sinh thì mới tròn đủ muôn hạnh và mau về chốn Bửu sở chẳng sa mắc nơi hóa thành”.

Đây là nguyên tắc không thể khác hơn, bởi cái định được thành tựu trên nền tảng của “Thập thiện” sẽ không lui sụt, đổ vỡ. Cho nên, “Ba đời Mười Phương Chư Phật đều phải trải qua công hạnh tu tập theo mười điều thiện”, vì đây là cửa ngỏ dẫn người ta đi dần đến Phật quả.

Ngoài ra, trong Bát Chánh Đạo Đức Phật dạy: Muốn có được chánh niệm, chánh định thì phải thành tựu những bước đầu tiên từ chánh kiến (quan điểm thiện); chánh tư duy (suy nghĩ thiện); chánh ngữ (lời nói thiện), chánh nghiệp (hành động thiện), chánh mạng (nuôi mạng thiện) cho đến chánh tinh tấn (siêng làm việc thiện). Tức “Định lực” có được là phải thành tựu từ trên nền tảng của thiện nghiệp. Chính thiện nghiệp này sẽ nuôi dưỡng định lực đi đến quả vị tột cùng là Vô ngã – Niết bàn.

Còn người nào trong tâm không thiện, không ác đã vội vã đi tìm sự thanh tịnh. Nếu có phước đời trước, họ sẽ đạt được kết quả nhưng cái định đó không bền. Một ngày nào nếu hưởng hết phước đời trước mà hiện đời không làm gì để tích lũy thêm công đức thì cái định đó sẽ thoái mất, tâm động loạn trở lại. Công phu tu hành mất hết và có khi đọa luôn.

Hơn nữa, một người khi chưa chứng Thánh thì ai dám bảo đảm trong tâm người đó không còn niệm ác nếu họ không tu để loại trừ. Người mà tâm thiện không được huân tập thì tâm ác sẽ lấn chiếm. Và khi tâm ác đã đến mức thuần rồi thì những biểu hiện của nó càng tinh vi, kín đáo hơn khiến người thường khó thấy. Cho nên có những người tu mà tâm họ hiểm độc còn hơn người thế gian. Vì tham vọng cá nhân, họ sẽ không từ bỏ bất cứ thủ đoạn xấu xa nào để hại một ai đó. Và phật pháp sẽ bị hủy diệt, hòa hợp Tăng sẽ bị phá vỡ bởi những con người như thế. Đó là hậu quả của tư tưởng “ Không thiện – không ác”.

Người mà tu theo khuynh hướng giữ “Tâm bất động” thì càng tu họ càng trở nên ích kỷ và không còn từ bi trong tâm. Bởi vì mục đích tu của họ là đi tìm cái giá trị cao nhất nằm nơi mình. Cho nên họ không cần thương yêu ai, không cần phải làm lợi ích cho ai. Nếu toàn thể tín đồ đều tu như thế thì thử hỏi “ Giá trị đạo Phật nằm ở chổ nào đối với lợi ích của của cuộc đời này”.

Do đó người tu theo đạo Phật phải chấp nhận con đường dấn thân, nếu vậy chắc chắn sẽ bị động tâm. Chẳng hạn, trong đời sống quý thầy cũng phải lo toan việc chùa, việc chúng, tham gia hoạt động từ thiện, đứng lớp giảng dạy, tổ chức giới đàn, tổ chức an cư kiết hạ, v.v...Như vậy sự động tâm đó thì sao?

Nếu động tâm vì lợi ích cho Phật pháp, cho chúng sinh thì càng động tâm chừng nào, tâm linh càng bừng sáng chừng ấy và tạo được nhiều phước lành. Chính công đức ấy mới giúp người tu đắc đạo. Còn mọi pháp môn tu hành chỉ là cái duyên tạm thời thôi. Cho nên có những người tu, suốt đời cứ lăng xăng lo vun bồi phát triển Phật pháp, lo cho chúng sinh biết đạo tu hành để thoát khổ. Thì người như vậy chúng ta thấy tâm họ rất an lạc hạnh phúc, rất thanh tịnh, rất đạo đức. Ngược lại, chỉ khi nào động tâm vì muốn lo cho mình, vì tham lam, sân, hận thì càng động tâm càng bị đọa lạc.

Do đó, chúng ta đừng hiểu “Tu giải thoát” là tâm phải hoàn toàn yên lắng, không được để động tâm. Thật sự giá trị của người tu không phải chỉ có yếu tố thanh tịnh mà còn nhiều yếu tố khác nữa như là trí tuệ, từ bi, đạo đức...

Nếu phải chọn giữa hai hình ảnh, một bên là vị Sư chuyên chú niệm Phật, suốt ngày không màng gì đến chuyện khổ đau của người chung quanh. Còn một bên là người nông dân tốt bụng, hễ thấy ai gặp nạn hay cần sự giúp đỡ nào đó là ông ta sẳn lòng. Như vậy, xét về đạo đức thì giữa hai con người đó ai sẽ là người đạo đức được xã hội chấp nhận hơn?

Trong kinh Nikaya Đức Phật dạy: Để có được chánh niệm tỉnh giác thì phải tu tập pháp quán “Hơi thở” song song với pháp quán “Tứ Vô Lượng Tâm”, tức hãy trải rộng tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả đến khắp pháp giới. Qua đó cho thấy, “Đạo lực” của người tu được đánh giá qua hai tính chất:
Tâm”Từ bi” và tâm “Bất động”

Và người tu phải có hai đặc tính như vậy thì khi được định mới không rơi vào trạng thái vô cảm, lãnh đạm, thờ ơ với con người, với thế giới này. Đó là lý do mà Đức Phật dạy cả hai pháp quán trên nhằm khắc phục tình trạng muốn tu giải thoát là phải quay lưng với cuộc đời.

Trong khi tâm “Từ bi” là một đức tính được ca ngợi bởi mọi tôn giáo, là một đạo lý quan trọng của đạo Phật. Bởi vì theo nguyên tắc của tâm lý “Phải có thương yêu thì mới xuất hiện thành việc làm cụ thể”. Nói cho dễ hiểu là có thương thì mới có sự giúp đỡ. Còn như thiếu điều này, con người sẽ sống với bản năng ích kỷ, tham lam, hưởng thụ, ác độc, hận thù và không làm được điều gì tốt cả. Mà có làm được cũng chỉ vì danh vọng, địa vị của lòng ích kỷ mà thôi. Chính nhờ có từ bi mà con người đã làm cho cuộc sống trở nên tươi đẹp, đáng sống và có ý nghĩa hơn.

Một người mà có tu tập tâm từ bi cho thuần, lại thêm dụng công tu Thiền thì khi đạt được sở đắc, họ là một vị Thánh tuyệt vời mà ai đến gần cũng bị cảm hóa bởi cái vẽ từ ái, nhẹ nhàng, thanh thoát toát ra từ một nội tâm thanh tịnh của họ. Còn như không có tu Thiền, người có tâm từ cũng sẽ là người hữu ích cho xã hội và bản thân họ tránh được nhiều phiền não do từ bi phá trừ được ích kỷ.

Ngược lại, người thiếu tâm từ bi mà tu Thiền, dù có sở đắc thì cũng chỉ là gỗ đá. Bởi vì từ phong cách cho đến đặc tính của họ là một sự khô cứng, lạnh lùng, khó ai gần gủi được. Vì thế mới nói “Gỗ, đá tuy là vô tâm nhưng lại hữu ích vì những đóng góp thiết thực của nó đối với cuộc đời. Còn người ích kỷ mà vô tâm sẽ là gánh nặng của xã hội, chỉ vì trước mắt cuộc sống của họ lệ thuộc vào người khác quá nhiều”.

Qua đó cho thấy, lợi ích của tâm từ bi là không thể nghĩ bàn. Tuy nhiên tâm từ bi phải huân tập mới có chứ không phải hễ tâm thanh tịnh bất động là từ bi xuất hiện. Đó là vì lâu nay ta quen sống ích kỷ cho riêng mình. Cho nên để có được tâm từ bi là cả một công phu kiên trì khó nhọc. Tuy phát khởi từ bi là động nhưng lại là cần thiết. Vì cái động đúng sẽ tạo nhiều công đức và giúp tâm dễ an định. Một người tu dù chưa chứng Thánh nhưng đạt được một phần nào của từ bi thì cũng đã là một vị Tăng đầy lợi ích cho cuộc đời.

Vì vậy ai bác bỏ giáo lý căn bản “Từ bi”, tức là phản lại lời Phật dạy. Nếu cả đạo Phật đều đi theo con đường là “Đề cao sự tu chứng cá nhân, ca ngợi trạng thái tâm thanh tịnh của sự ích kỷ thì đạo Phật sẽ bị diệt vong”. Vì cái đạo của những người tu như thế không đem lại lợi ích gì cho cuộc đời này.

Không nói đâu xa chỉ ở các Chùa trong nước đây, rất nhiều phật tử đã bỏ đạo, họ không đến chùa nữa vì thất vọng. Chùa là biểu tượng của Thánh triết, của lòng thương yêu, vậy mà khi đến Chùa họ không nhận được một chút quan tâm nào từ nơi quý thầy, quý sư cô. Cái khoảng cách vắng lặng, phân biệt trong ứng xử nơi cửa Chùa đã tạo nên hố sâu mặc cảm, thắc mắc trong lòng họ. Để rồi nhiều người buồn bả thốt lên “Đạo Phật là đạo cứu khổ ban vui, vậy mà khi đến Chùa họ thấy người tu trong đó vẫn hơn thua, ích kỷ, không có đạo đức và nhất là không có lòng thương yêu đối với nhau”. Vậy thì họ ở nhà vẫn tốt hơn đến Chùa mà không tìm được một chút đạo lý gì để sống.

Tuy nhiên, giữa số người tu tiêu cực vẫn còn có những bậc chân tu chân chính đã ra sức củng cố, phát triển đạo Phật đi đúng hướng theo thời đại. Đã tạo nên diện mạo mới của Phật giáo ở thế kỷ XXI. Cho nên đạo Phật ngày nay đã phục hồi được sức sống và có tầm ảnh hưởng ngày càng lớn mạnh trên thế giới.

Thiết nghĩ, ở vào thế kỷ văn minh, khoa học phát triển, xã hội không ngừng cải tiến thì mỗi người phải đặt mình trong quy luật chung ấy, mới khỏi bị đào thải bởi bánh xe tiến hóa. Nhất là người tín đồ Phật giáo phải biết “Đạo Phật muốn tồn tại lâu dài thì phải xây dựng chỗ đứng của mình trong tư tưởng tiến bộ của nhân loại”.

Ngày nay, một người tu đúng nghĩa trong đạo Phật phải rất bản lãnh, tức phải là người có khả năng xử lý mọi việc đúng với đạo lý mà tâm không vướng mắc vào đó. Đồng thời song song với cái định họ tìm được là tình thương yêu tràn đầy với tất cả chúng sinh. Để rồi một sự thúc đẫy mạnh mẽ buộc họ phải có trách nhiệm đối với con người nói chung, và sự an nguy của toàn nhân loại hay tất cả chúng sinh nói riêng. Ngày nào còn có chúng sinh đau khổ thì ngày đó một người mang danh đệ tử Phật, một người biết hạnh phúc của giải thoát là gì sẽ không cho phép mình quay lưng với cuộc đời, với tất cả chúng sinh. Đây mới đích thực là giá trị của đạo Phật.

Đệ Tử Thiền Tôn Phật Quang
Photo

Post has attachment
Ơn hoa đã nở bên đường
Sẻ chia với nắng dịu dàng sắc hoa
Dẫu mai đây sẽ phôi pha
Chỉ cần một thoáng … cũng là thiên thu!

Ừ thì, chỉ cần một thoáng thôi phải không bạn?
Một thoáng mở cửa căn nhà hoang trăm năm tăm tối, để ánh sáng tràn vào.
Một thoáng buông hành trang xuống bỗng thấy mình nhẹ tênh.

Một thoáng không còn muộn phiền, không còn chứa chấp điều gì nữa … tự nhiên thấy cuộc đời thật đáng yêu, bầu trời thật rộng lớn!

Một thoáng dừng lại bên đường ngắm nụ hoa đang nở, nhâm nhi một tách trà thơm … để không phí hoài kiếp sống.

Chính vì chúng ta cứ nghĩ có cuộc đời khác, ở nơi khác … nên vô tình bỏ lỡ cuộc đời này, ở ngay đây.

Chính vì chúng ta cứ nghĩ hạnh phúc bình an đang đợi ở phía trước … nên vô tình đi mãi đi mãi đến mệt nhoài.

Hạnh phúc ở ngay chỗ chúng ta ngồi ! Thật giản dị và nhẹ nhàng @@@ !!!
Nắng lưng trời và lá cỏ reo vui….!
“Khi Bụt và các vị khất sĩ tới được rừng Sala thì trời đã xế chiều….
Bụt đưa mắt nhìn rừng cây rồi nói:
– Này các con, hãy nhìn xem, bây giờ đâu phải là mùa hoa, mà những cây sala này đang nở hoa trắng xóa. Hoa rụng trên áo Như lai và trên cả áo các vị khất sĩ. Rừng này đẹp quá, các con có thấy mặt trời đang ngã về phía Tây và chân trời thật rạng rỡ? Các con có nghe gió nhẹ rì rào trong các cành sala? Vạn vật đối với Như lai dễ thương và đằm thắm quá.”

Đó là một trong những lời cuối cùng của Bụt – phỏng theo Đường Xưa Mây Trắng của Sư Ông

– Này các con, hãy nhìn xem … Như là Bụt đang lay gọi đánh thức chúng ta dậy.
– Con có thấy chân trời thật rạng rỡ, con có nghe gió nhẹ rì rào trên những cành xa la…

Vạn vật, chúng ta thấy rất đỗi bình thường như thế, nhưng với Bụt lại quá đẹp, quá dịu dàng đằm thắm và chứa đựng rất nhiều sự mầu nhiệm. Bởi vì Bụt đang có mặt, đang nhìn bằng đôi mắt tỉnh thức và trái tim yêu thương. Còn chúng ta cứ mãi vọng về quá khứ, lo tưởng tương lai nên không cảm nhận được: Cuộc sống vốn ở lúc này và ngay đây!
SƯU TẦM
Photo

Post has attachment
nam mo a di da phat
Photo

Post has attachment
🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Photo

Post has attachment
Photo

Post has attachment
Ơn người đã lắng nghe nhau
Dẫu là một giấc chiêm bao vô thường …

Photo
Wait while more posts are being loaded