Post has attachment
Cây Chôm chôm có tên khoa học là: Nephelium lappaceum, là loài cây vùng nhiệt đới Đông Nam Á, thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae). Tên gọi chôm chôm (hay lôm chôm) tượng hình cho trạng thái lông của quả loài cây này.
http://cayxanhsaigon.net/cay-an-trai/cay-chom-chom/

Post has attachment
Bán Cây Nguyệt Quế
Liên hệ đặt Cây: 0909.551105 Mr Bình
http://cayxanhsaigon.net/ky-thuat-cham-soc-cay/ky-thuat-trong-va-cham-soc-cay-nguyet-que/ Nhân Giống Cây Nguyệt Quế
Có 4 phương pháp thường áp dụng : Gieo hạt, Chiết cành, Ghép mắt, Giâm cành

Phòng trừ sâu bệnh
Sâu đục dưới lớp biểu bì lá thành những đường ngoằn ngoèo. Sự phá hại của sâu làm cho lá co dúm, quăn queo, hạn chế quang hợp. Ngoài ra, các vết thương do sâu nên trên lá và chồi điều kiện cho bệnh loét phát triển.
Biện pháp phòng trừ: chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, thúc cho các đợt ra lộc tập trung, chóng thành thục có thể hạn chế được phá hại của sâu.
Dùng các loại thuốc nội hấp như Cymbush 8cc/bình 8 lít nước, Bi 58 nồng độ 0,1 %, Lannate 20g/bình 8 lít nước.
Rầy mềm (Toxoptera sp):
Thường chích hút nhựa ở đầu ngọn làm chồi và lá non không phát triển được, co rúm lại, đồng thời phân của chúng thải ra tạo điều kiện cho nấm bồ hóng cộng sinh và phát triển.
Phòng trị: Phun thuốc định kỳ các đợt lộc của cây như Supracide 40EC (10-15 cc/bình 8 lít), Polytrin P 440EC (8-15cc/bình 8 lít).
Rầy chổng cánh (Diaphorina citri Kuwayama).
Tác hại của rầy chổng cánh: trực tiếp gây hại bằng cách chích hút trên đọt non, làm đọt non bị chết.
Tập quán sinh sống của rầy chổng cánh.
- Gây hại trên các cây cảnh : Nguyệt quế, cần thăng, kim quýt, quất, phật thủ.
- Nguyệt Quế là cây được rầy chổng cánh ưa thích nhất.
- Di chuyển từ nơi nầy đến nơi khác chủ yếu nhờ gió
- Bị hấp dẫn bởi màu vàng và vàng nâu.
- Xuất hiện nhiều vào lúc cây ra đọt non.
Thiên địch của rầy chổng cánh: rầy chổng cánh có thể bị hại bởi một số thiên địch ngoài tự nhiên như bọ rùa, ong ký sinh và nấm.
Phòng trừ rầy chổng cánh
- Không nên trồng nguyệt quế gần vườn cam quýt
- Thường xuyên phun thuốc để trừ rầy
- Cắt tỉa cành, điều khiển các đợt ra đọt non tập trung để xịt thuốc trừ rầy.
- Thường xuyên xem xét để phát hiện ấu trùng và rầy trưởng thành để tiêu diệt kịp thời, nhất là những giai đoạn cây ra đọt non hoặc sau những cơn giông lớn.
- Bảo vệ và tạo điều kiện cho các loài thiên địch phát triển bằng cách phun thuốc hợp lý.
Phun thuốc:
+Khi cây ra đọt non 1-2 cm.
+Sau những cơn giông mạnh có thể đưa rầy từ nơi khác đến.
+Phun tập trung vào các đợt đọt non.
Dùng các loại thuốc như:
- Applaud 10wp: 8g/bình 8 lít nước
- Applaud mipc: 12g/bình 8 lít nước
- Trebon 10EC: 8cc/bình 8 lít nước
- Bassa 50EC: 16cc/bình 8 lít nước
Bệnh loét (Canker)
Do vi khuẩn (Xanthomonas campestris pv.citri) gây hại. Dễ thấy nhất trên lá và trái. Vết bệnh lúc đầu nhỏ, sũng nước, màu xanh sậm, sau đó biến thành màu nâu nhạt, mọc nhô trên mặt lá hay vỏ trái, chung quanh vết bệnh trên lá có thể có quầng vàng.
Biện pháp phòng trị: Cắt bỏ, tiêu hủy những cành, lá bệnh
Phun các loại thuốc gốc đồng như Copperzinc, Kasuran BTN (1,5-2%), hoặc Zineb 80 BHN (1/500-1/800)
Xử lý hạt, mắt ghép trước bằng nước Javel hay nhiệt (nước: 5nóng: 5 lạnh) trong 20 phút.
Bệnh thối gốc chảy nhựa
Do nấm Phytopthora sp gây ra.Lúc đầu bệnh làm vỏ của thân cây ở vùng gốc bị úng nước, thối nâu thành những vùng bất dạng, sau đó khô, nứt dọc, chảy mủ hôi. Cây bệnh ít rễ, mảnh, ngắn, vỏ rễ thối rất dễ tuột, nhất là ở các rễ con, lá bị vàng.
Phòng trừ: Chọn gốc ghép chống chịu bệnh, đất trồng phải ráo, không tủ cỏ rác, tránh gây thương tích vùng gốc và rễ. Nên theo dõi phát hiện bệnh sớm, cạo sạch vùng bệnh, bôi dung dịch thuốc tím 1% hay bằng các loại thuốc như Captan 75 BTN, Aliette 80 BHN, Copper Zinc, Copper B,…
Chăm sóc, bón phân cho cây Bonsai
Đặc điểm:
Các loại kiểng cây như nguyệt quế, bùm sụm, thông, tùng, sung, lộc vừng, mai chiếu thủy, sanh, si, đa… rất cần được bón phân thường xuyên để duy trì thế cây và tán cây được cân đối, đẹp.
Nguyên tắc tạo hình:
- Tạo cân đối: Một cây thiết kế đẹp cần có sự cân bằng toàn diện, từ sự tạo hình, uốn nắn cấu trúc của cây đến sự kết hợp giữa cây và chậu. Có ba nhân tố chính cần lưu tâm:
+ Rễ cây ăn lan: Rễ cây lộ ra trên mặt đất làm tăng thêm ấn tượng về sự trưởng thành và tính chất của cây. Đây là một trong những nét đặc trưng thú vị nhất của nghệ thuật cây cảnh. Rễ cây cần lan ra nhiều hướng quanh thân và bò rộng ra, tạo cho thân cây chỗ tựa chắc chắn.
+ Cành cây: Cành cây tạo nên cấu trúc căn bản của hình bóng cây. Bạn có thể điều chỉnh nó bằng phương pháp cắt tỉa và buộc uốn dây kẽm. Hãy ngắm kỹ sự sắp đặt của cành mọc lên và lan ra quanh cây như một cầu thang xoắn ốc, hình dung sự hài hòa cân đối quanh thân cây. Cành khỏe mạnh đầu tiên nằm ngang phải là hàng thứ ba tính từ dưới lên trên. Mỗi cành phải thon dần từ thân và hẹp dần ở ngọn. Ngoài ra cần chú ý đến sự cân đối giữa cây và chậu về tất cả những đặc điểm tạo dáng và vị trí của cây trong chậu. Những điều cần tránh: Những cành tăng trưỡng quá lớn không làm đẹp cho yếu tố thiết kế, hãy cắt bỏ chúng đi. Tránh để những cành mọc đâm ngang và lan từ cùng một chỗ trên thân, hay mọc đối diện với cành khác ở cùng một độ cao trên thân.
+ Thân cây: Nét đặc trưng quan trọng nhất của thân cây là có ngọn đẹp (gốc to, ngọn nhỏ). Sự dày dặn ở dưới sẽ làm tăng vẻ trưởng thành, nhưng cây mọc thẳng tắp cũng sẽ làm hỏng sự hài hòa trong kiểu dáng. Phải tìm loại vỏ cây có cấu tạo và màu sắc phù hợp với đường nét, kèm theo tuổi tác, vẻ dày dạn phong sương cũng là điều hấp dẫn của cây cảnh.
Tạo hình bằng dây kẽm:
Với kỹ thuật này có thể tạo cây cảnh bằng cách thay đổi hướng của thân và nhánh cây. Những cành mọc chĩa lên có thể uốn ngang hay vuốt xuống để tạo ấn tượng già dặn, trưởng thành.
Uốn kẽm loại cây xanh quanh năm ở thời điểm nào cũng được (nhưng với các loại như tùng bách thì thời điểm tốt nhất là cuối mùa thu đến đầu mùa xuân).
Nên uốn cây rụng lá theo mùa vào cuối xuân (trước khi cây đâm chồi) hay cuối thu (trước khi ngủ đông). Thực tế, chúng ta nên dựa vào dạng cây để chọn những cành mềm, dẻo, dễ uốn và không bị tách nhánh.
Cách quấn kẽm:
+ Quấn thân cây: Cắt một sợi dây có chiều dài gấp 3 lần nhánh hay thân cần quấn. Có thể quấn dây lượn quanh thân một góc 45o, đó là cách quấn hiệu quả nhất. Cách quấn: Cắm một đầu kẽm xuống đất, đầu tiên quấn quanh gốc cây, sau đó quấn lên thân cây. Nếu muốn quấn thêm một lần nữa, bạn nên quấn sát với sợi dây trước và nhất thiết không quấn chồng lên nhau.
+ Quấn nhánh: Bắt đầu quấn từ dưới. Đồng thời quấn dây xen kẽ theo chiều dài của nhánh đến khi làm xong nguyên cây (trở lại quấn trên những cành non thật tỉ mỉ). Hoặc chúng ta quấn cùng một lúc cả nhánh chính và nhánh phụ trước khi quấn tiếp. Sử dụng dây mảnh hơn cho bề dày của nhánh thon. Thông thường, hãy quấn hai nhánh cùng một lúc với cùng một sợi dây quấn, quấn quanh để tạo thế dựa thân. Ở những nơi có nhánh đơn, thì nên quấn liên kết với nhánh khác, buộc chặc đầu dây bằng cách gài nó dưới vài vòng đầu tiên.
+ Bao lâu thì gỡ dây quấn? Điều này còn tùy thuộc độ dày của thân, cành, loại cây, chất lượng và tuổi cây. Nên thường xuyên kiểm tra dây quấn để đảm bảo dây quấn để đảm bảo dây không hằn vào vỏ khi cây phát triển. Tháo dây quấn trong khoảng ba đến sáu tháng với những cây rụng lá theo mùa, sáu đến mười hai tháng với cây xanh quanh năm. Phải cẩn thận khi chọn cỡ dây phù hợp với độ lớn và sự phát triển của cây. Nên thay đổi cỡ dây quấn theo độ dày của thân nhánh thì cỡ dây phải nhỏ dần, cỡ dây tương ứng bằng 1/6 đến 1/3 đường kính của cành hoặc thân chọn quấn. Để tháo dây quấn, tốt hơn hết bạn nên cắt dây thành những đoạn nhỏ, nhằm giảm bớt sự rủi ro, hư hại cho cây.
Sang chậu và thay đất:
Khi đất trong chậu đã cạn kiệt chất bổ dưỡng thì Bonsai có hiện tượng: Cây không còn tươi tắn, có hiện tượng xuống sức, bộ lá kém tươi và bắt đầu nhuốm vàng bệnh hoạn, các cành như không thể cất cao lên được, nhiều rễ con lồi lên mặt đất chậu, lớp đất trên bề mặt chậu mỏng dần đi. Những triệu chứng trên cho thấy đã đến lúc thay đất cho cây.
Theo thời tiết nước ta thì nên sang chậu vào mùa xuân hay trước mùa mưa khi cây bắt đầu đâm chồi, nảy lộc và đó là thời tiết mát mẻ.
Dùng dao cùn xắn từ từ phần đất sát thành chậu cho đến khi bầu đất và thành chậu được tách ra hay trước đó một buổi ta tưới nước cho đất thật nhão, như vậy chỉ cần nghiêng chậu là lấy cây ra được.
Tiến hành cắt bỏ rễ lớn và rễ con đã quá già và chỉ chừa lại những rễ non. Nên dùng loại kềm bén để hớt bớt rễ, vết cắt cần cho ngọt, không được giập nát. Bộ rễ sau khi xử lý xong phải được gọn gàng.
Đây cũng là dịp tốt để ta cắt tỉa những cành, nhánh mọc không đúng cách, hoặc sửa đổi chúng.
Bón phân:
Bón phân định kỳ 1-2 tháng/lần, lượng bón cho mỗi cây/đợt tùy theo cây lớn nhỏ như sau:
- 5-10 gam NPK 20-10-10
– 20-30 gam Compomix
Nếu trồng cây trong chậu thì cứ 3-4 tháng thay đất một lần bằng cách bỏ bớt 1/4-1/3 đất củ trong chậu thay bằng hỗn hợp đất sạch Compost Đầu Trâu.
Phun phân bón lá Đầu Trâu:
- Thời kỳ cây đang lớn hoặc sau cắt tỉa: Pha 1-2 gam Đầu Trâu 501 trong 1 lít nước, phun định kỳ 7-10 ngày/lần.
- Thời kỳ sau khi chuyển chậu hoặc cắt tỉa: Pha1-2 gam Đầu Trâu 701 trong 1 lít nước, phun định kỳ 7-10 ngày/lần.
– Phun dưỡng cây định kỳ bằng cách pha 1-2 gam Đầu Trâu 901 trong 1 lít nước, phun định kỳ 7-10 ngày/lần.
Mua bán Cây Xanh, Cây Cảnh
LIÊN HỆ ĐẶT CÂY: 0909.551105 MR BÌNH

Post has attachment
GIỚI THIỆU CÂY SALA
Cây Sala còn gọi là cây Đầu Lân, Song Thọ, Thala, Hàm Rồng hay Ngọc Kỳ Lân thuộc họ chiếc Lecythidaceae, chung họ với cây Lộc Vừng. Tên khoa học là Couroupita surinamensis, tên tiếng Anh gọi là Cannonball tree.
Cây Sala là cây thân gỗ lớn, thân thẳng, tán rộng, lá dày, cây có thể cao 20m đến 30m. Hoa Thala mọc từ thân hoặc cành, dòi hoa có thể dài đến 3m, hoa ra gần như quanh năm, hoa có mùa hương rất thơm và đẹp. Quả Thala có thể chữa được bệnh đau răng hoặc dùng làm thuốc kháng sinh, kháng khuẩn. Cây Thala có tán lá dày, ít rụng lá nên che bóng mát rất tốt.

Cây Sala có nguồn gốc từ Nam Mỹ được trồng rộng rãi tại Việt Nam khoảng 10 năm trở lại đây, cây thích hợp để trồng Công trình, Nhà vườn, đường phố, Công Viên, Chùa…
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY SALA
Cây Sala là loài cây rất dễ sống, thích nghi với môi trường rất tốt, thích hợp với nhiều loại đất khác nhau như: Đất nhiễm phèn, đất thịt, đất pha cát, đất úng nước,…
KỸ THUẬT TRỒNG CÂY SALA
1/ Cây giống
- Cây Con: Cây giống Sala có thể được ương từ hạt, giâm cành hoặc giâm rễ
- Cây Bứng: Trước khi bứng cây chúng ta nên tỉa cành, bứng bầu trung bình 40cmx40cmx40cm

2/ Đất và phân trồng cây
- Cây con: chỉ cần bỏ một bao tro, một ít phân bò
- Cây Bứng: Cần 2 bao tro, 1 bao đất, 1 bao xơ dừa (nếu có thì cho thêm bao trấu)
3/ Nước tưới cây
- Nếu cây trồng vào mùa mưa thì mỗi tuần chỉ cần tưới 1 lần
- Nếu cây trồng vào mùa khô thì 2 ngày tưới một lần
4/ Cây chống
- Đối với cây con: Khi trồng xuống ta lấy một cây tre thẳng cao vượt quá thân cây Sala khoảng 50cm, dùng dây buộc cây Sala vào cây tre, để đảm bảo cây phát triển thẳng đứng và tránh được gió.
- Đối với cây Bứng: Mỗi cây Sala cần có 3 cây chống chắc chắn để cây không bị rung lắc, tránh hiện tượng cây bị đứt rễ non.
CHĂM SÓC CÂY SALA
Sau khi trồng cần đảm bảo lượng nước tưới cây, khi cây cao khoảng 3m-4m thì tỉa bớt những cảnh phía dưới để cây phát triển đạt chiều cao.
LIÊN HỆ ĐẶT CÂY: 0909.551105 MR BÌNH

Post has attachment
CÁCH CHĂM SÓC CÂY VÀ HOA LỘC VỪNG
CHĂM SÓC CÂY LỘC VỪNG
Để trồng được một cây Lộc Vừng thực sự là điều không quá khó, thế nhưng để giúp cho cây Lộc Vừng thân yêu của bạn có thể sống khỏe mạnh, ra hoa đều đặn và tươi mới lại là điều không phải ai cũng có thể làm được.
Rất nhiều có những suy nghĩ sai lầm khi cho rằng, Lộc Vừng là loại cây chịu nước, thường hay sống ngoài bờ ao, khu đầm lầy, sống trong điều kiện nước ngập quanh năm mà cây vẫn ra hoa. Chính vì thế, khi trồng loại cây này, họ thường sử dụng các loại chậu không có lỗ thoát nước, dẫn đến cây bị thối rễ, không thể mọc rễ mới làm cho lá vàng, thân héo và chết.
Để có thể tránh được những tình huống không hay trên, hôm nay, tôi xin chia sẻ đến các bạn một số điểm lưu ý khi trồng và chăm sóc cây Lộc Vừng như sau: Cách trồng Bất kể dù là bạn trồng cây Lộc Vừng trong hang, bể hay chậu thì điều kiện tiên quyết đầu tiên đó là phải có lỗ thoát nước cho cây. Loại đất dùng để trồng phải là loại đất mầu, có trộn thêm các loại phụ gia như trấu, xỉ than lò gạch đập nhỏ cũng như một chút phân bón (nên sử dụng loại phân chuồng hoại mục) Thường xuyên tưới nước 1 ngày 2 lần để giữ độ ẩm vừa phải giúp cho cây ra rễ mới. Khi cây đã lớn mạnh, chứng tỏ phần rễ của cây đã khá vững chắc. Khi đó bạn có thể thoải mái tưới nước giúp cây phát triển nhanh hơn nhưng tuyệt đối không được để cây bị úng nước. Vì khi úng nước, đầu rễ sẽ không thoát được khí dẫn đến tình trạng bị thối, chết dần từ phần đầu rễ vào làm cây héo dần và chết. Trong trường hợp bạn muốn trồng cây Lộc Vừng trong các hang, bể hay chậu thì khi vừa mới trồng vào, bạn phải xếp gạch hoặc các loại đá xung quanh bầu, và nhớ là phải thường xuyên tưới nước để giữ ẩm cho cây. Đợi đến khi phần rễ được vững chắc thì bạn có thể bỏ phần gạch đá ra ngoài và bít các lỗ thoát nước lại. Khi đấy bạn có thể hoàn toàn yên tâm ngâm bộ rễ trong nước thoải mái mà cây vẫn có thể phát triển tốt và ra hoa đều đặn.
trong cay loc vung Kỹ thuật trồng cây Lộc Vừng và chăm sóc Lộc Vừng ra hoa
Trồng cây Lộc Vừng
Cách chăm sóc Cách chăm sóc cây Lộc Vừng cũng tương tự như cách chăm sóc các loại cây cảnh khác, chỉ cần bạn tuân thủ làm chính xác các kỹ thuật khi trồng cây thì việc chăm sóc cây Lộc Vừng lại trở nên rất đơn giản. Chỉ cần để cây ở những khu vực thoáng đãng, có ánh nắng mặt trời (giúp cây quang hợp tốt) thì cây có thể phát triển ở 4 phía. Chú ý là hằng ngày phải tưới nước đều đặn để giúp cây giữ được độ ẩm cần thiết cũng như thường xuyên theo dõi, phun thuốc diệt trừ các loại sâu bọ. Hai đến ba năm thì nên trồng lại hoặc thay đất mới cho cây một lần để giúp cây luôn được cung cấp đủ chất dinh dưỡng và phát triển khỏe mạnh, ra hoa đúng mùa.
Trồng và chăm sóc cây Lộc Vừng thực sự không khó, nhưng để cây có thể phát triển tốt, ra hoa đúng mùa, hoa tươi lâu thì người chơi cây buộc phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
1. Cành giống được dùng để trồng phải có kích thước đúng chuẩn quy định (3 – 5 cm), vỏ phải dày, phát ra nơi lộ sáng từ hướng đông đến Nam là tốt nhất vì khi đó cây Lộc Vừng của bạn có nhựa sống dồi dào. Nếu bạn chọn cây giống được ươm từ hạt thì phải tìm cây có thân hơi mập một chút, hình bút tháp, phần lá phải hơi cứng, màu nõn tía và đường kính gốc lý tưởng nhất là từ 1,5 – 2 cm để có thể giúp bạn dễ gắn đá khi chưng trong các tiểu cảnh non bộ.
2. Địa điểm trồng tốt nhất là ven bờ nước cho hợp với phong thủy thổ. Nếu các bạn thích trồng cây Lộc Vừng trên cạn thì bạn cần phải đào rãnh xung quanh để giúp cây giữ nước, trồng ụ đất trong các loại chậu kín đáy, tưới nước sạch (nên dùng nước giếng vì đây là loại nước có chứa nhiều khoáng vi lượng giúp cây dễ tiêu), ốp đá xung quanh phần gốc cây để giúp cây hạn chế xiêu đổ và tạo khung cảnh tươi đẹp.
3. Không nên trồng nơi thiếu ảnh sáng mặt trời, tránh bóng râm che phủ lên cây, không được thúc ép cây phát triển nhanh bằng các loại phân hóa học, nhất là phân đạm, sunphat, NO3, … vì có thể dẫn đến tình trạng lá tốt nhưng hoa xấu, kém tươi cũng như làm hấp dẫn các loại sâu bọ gây bệnh đến phá cây của bạn. Lộc Vừng Nếu trồng trong chậu, bồn, bạn nên bón cây bằng hỗn hợp NPK hữu cơ vi sinh ( mua loại chuyên dùng cho hoa cảnh có hàm lượng N nhỏ hơn mức 10%), trộn đều với bột xỉ than và rải đều trên bề mặt đất, cho ngấm tự nhiên. Cách làm này sẽ giúp cho cây Lộc Vừng của bạn được bền gốc, cây chắc khỏe, hoa tươi – đẹp.
Một số trường hợp cần khắc phục: Nếu chẳng may, cây Lộc Vừng của bạn trồng không đúng kỹ thuật dẫn đến bị úng nước, lá héo. Khi đấy bạn phải nhanh tay khắc phục bằng cách:
- Nếu đó là cây mới trồng: bạn phải vặt bỏ hết phần lá, sau đó khoan một lỗ nhỏ sát đáy để nước thoát thật nhanh ra ngoài, sau đó để phơi khoảng 2-3 ngày cho đất khô rao rồi mới tưới nhẹ cho cây giữ độ ẩm và phát triển bình thường trở lại.
- Nếu cây đã được trồng lâu năm: có 2 cách khắc phục:
Cách 1: Tương tự như cách phía trên, là bỏ hết phần lá sau đó khoan lỗ, kết hợp đào bỏ đất và rễ xung quanh chậu khoảng 10 phân (từ phần miệng chậu xuống đến phần tận đáy). Sau đó, tiếp tục cho đất, phân cũng như các loại trấu đã được trộn đều vào thay cho phần đất và rễ được bỏ ra ngoài. Tưới nước vào cho đến khi thấy nước chảy ra ra ngoài các lỗ thoát nước là được.
Cách 2: Bỏ phần lá sau đó đánh bầu cây ra, khoan lỗ thoát nước kết hợp với việc cắt bỏ phần rễ thối, khô và cho phần đất cùng phân mới vào để trồng lại giống như cách 1.
Trên đây là một số lưu ý trong cách trồng và chăm sóc cây Lộc Vừng, hy vọng với một số kinh nghiệm nhỏ mà chúng tôi chia sẻ. Các bạn có thể giúp cho cây của mình trở nên khỏe mạnh và tươi tốt hơn. Chúc các bạn thành công.
KÍCH THÍCH CÂY RA HOA
Hoa thường nở hai vụ trong năm vào tháng 7 và 11 âm lịch. Khi hoa nở có hương thơm, hoa buông thành bức mành, mầu hồng tươi, trông thướt tha, mềm mại, quyến rũ, tương phản với dáng mộc mạc, cũ kỹ của thân cành càng làm nổi bật nét đẹp riêng chỉ cây lộc vừng mới có.
Để kích thích cây Lộc Vừng ra hoa cần lưu ý các điều kiện sau:
 Kỹ thuật trồng cây Lộc Vừng và chăm sóc Lộc Vừng ra hoa
Hoa Lộc Vừng
1. Về chế độ ánh sáng
Nếu trồng cây Lộc vừng dưới đất cần trồng nơi có nhiều ánh sáng, có thể trồng nơi ven bờ sông hồ, cây Lộc vừng sẽ ra hoa tự nhiên không cần xử lý kích thích, loài cây Lộc vừng có lá tròn nhỏ ( thường có xuất xứ từ miền Trung trở ra Bắc) sẽ siêng có hoa hơn  cây Lộc vừng có lá dài to ( còn gọi là cây Chiếc hay cây Mực ).
Trường hợp trồng cây Lộc vừng trong chậu thì đặt cây nơi có đầy đủ ánh sáng không bị che bóng. Cây trong chậu sẽ rất khó ra hoa do điều kiện dinh dưỡng kém nên thường xuyên bón phân hữu cơ hoai mục và DAP để cây sinh trưởng tốt.
2. Chọn thời điểm kích thích ra hoa
Thời gian từ khi kích thích đến khi ra hoa là 03 tháng, khi thấy cây Lộc vừng có bộ tán lá xanh tốt thì bắt đầu xử lý kích thích ra hoa.
Ví dụ: Để canh cây Lộc vừng ra hoa vào dịp Tết thì chọn đầu tháng 9 âm lịch bắt đầu kích thích ra hoa.
3. Lựa chọn cách kích thích ra hoa
Cách 1: Làm cho cây sinh trưởng trong điều kiện ngập nước:
Dùng đất bít lỗ thoát nước dưới đáy chậu xong đổ nước vào chậu cho nước ngập một phần rễ cây khoảng 30 %. Sau một tháng khi cây vừa quen với tình trạng rễ ngập nước thì thoát nước ra, lúc này bắt đầu phun KNO3 kết hợp vitamin B1 liều lượng 100 gam KNO3 + 12 ml B1 cho bình 8 lít nước phun ướt toàn bộ tán lá cây ( lúc chiều mát).Thời gian phun là 3 lần cách nhau 7-10 ngày.Tưới nước vừa đủ, khi thấy cây Lộc vừng phún chồi lá thì mới tưới nhiều.
Cách 2: Siết nước tưới kết hợp lặt bỏ lá cây:
Khi cây Lộc vừng sinh trưởng tốt, để giúp cây chuyển sang giai đoạn phân hóa mầm hoa thì bắt đầu cắt nước không tưới hoàn toàn trong thời gian 5- 7 ngày, khi thấy lá cây có dấu hiệu vàng héo thì tưới nhẹ vùa đủ ẩm, sau đó lặt bỏ hết lá trên cây. Dùng KNO3 và vitamin B1 với liều lượng 120 g KNO3 + 12 ml B1 pha trong bình 8 lít nước phun ướt toàn bộ tán cây ( lúc chiều mát).Phun 3 lần cách nhau 7- 10 ngày.Khi thấy cây phun lá non thì tưới nước đầy đủ.
Để cây Lộc vừng ra hoa bền và lâu cần bón thêm phân hạt NPK 5-15-25 TE rải xung quanh đất gốc cây, xong dùng đất lấp lại.
Liều lượng sử dụng:
- Cây trong chậu nhỏ ( Đường kính chậu từ 60 – 80 cm) 1 muỗng canh cho một lần bón
- Cây trung bình  ( Đkính chậu 100 – 120 cm) : 2 muỗng canh cho một lần bón
- Cây to ( Đkính chậu > 120 cm): 3 muỗng canh cho một lần bón
LIÊN HỆ ĐẶT CÂY: 0909.551105 MR BÌNH

Post has attachment
CÂY THALA HAY CÒN GỌI LÀ SALA, NGỌC KỲ LÂN, ĐẦU LÂN, HÀM RỒNG, SONG THỌ
Chúng tôi cung cấp số lượng lớn cây Thala hoành từ 2cm đến 3m, cao từ 2m đến 10m cho các Công trình, Đô thị, Nhà vườn, Chùa, Đình trên toàn quốc. Giao cây tận nơi, bao trồng, bao sống, hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc.
LIÊN HỆ ĐẶT CÂY: 0909.551105 MR BÌNH
I. GIỚI THIỆU CÂY THALA (SALA, NGỌC KỲ LÂN, ĐẦU LÂN, HÀM RỒNG)
Cây Thala (Sala, Ngọc Kỳ Lân) là một loại cây thân gỗ, cây có thể cao tới 30-35m, tán rất rộng, lá dày, Hoa Thala ra từ gốc đến ngọn và nở suốt từ tháng 3 đến tháng 9 âm lịch, chùm hoa dài có thể tới 2m đến 3m, hoa có màu đỏ, rất thơm thường được nhắc tới trong kinh Phật. Có tác giả nghiên cứu Phật giáo còn gọi hoa Thala là hoa Vô Ưu.
Quả Thala lớn tròn to đường kính quả 15-24cm, có 200-300 hạt trong một quả. Quả cây Thala có tính kháng sinh, kháng nấm, sát khuẩn và có tác dụng giảm đau. Cây được sử dụng để chữa bệnh cảm lạnh và đau dạ dày. Nước uống làm từ các lá được sử dụng để chữa bệnh da. Bên trong quả có thể khử trùng vết thương và lá non chữa đau răng…
Trong kinh Phật, có hai loại cây được xem là linh thiêng và thường được nhắc đến nhiều là cây Bồ đề và cây Sala. Dưới gốc cây Bồ đề, thái tử Tất Đạt Đa giác ngộ thành Phật sau 49 ngày đêm thiền định. Dưới cây Sala ở vườn Lâm Tì Ni (Lumbini), Đức Phật Đản sinh và Ngài cũng nhập diệt giữa 2 cây Sala tại khu rừng Usinara đầy cây sala.

Cây Sala (Thala, Ngọc Kỳ Lân) tên khoa học là Couroupita guianensis Mart. ex Berg, họ Lộc vừng Lecythidaceae, bộ Sim Myrtales; trong tiếng Anh thường gọi là Cannonball Tree. Cây phổ biến trong khu rừng tân nhiệt đới, đặc biệt là ở lưu vực sông Amazon. Nó có nguồn gốc ở Guyana (Nam Mỹ). Ngày nay cây này có thể tìm thấy ở Ấn Độ, miền Nam dãy núi Hy Mã Lạp, và về sau được trồng nhiều nơi ở Nam Á và Đông Nam Á.
Ở Việt Nam, cây Sala còn gọi là cây Đầu lân, Hàm rồng, Giới chơi cây cảnh gọi là Ngọc kỳ lân, cây Sala được trồng ở các chùa như Xá lợi, Vĩnh Nghiêm, Tăng Quang (đường Nguyễn Chí Thanh, TP Huế), hay trồng cảnh trong các dự án Công trình, Đô thị, Sân vườn, Quán Cafe, Nhà hàng, các Cơ Quan, biệt thự-villa, Nhà phố.

II. Ý NGHĨA CÂY THALA (SALA, NGỌC KỲ LÂN, ĐẦU LÂN, HÀM RỒNG)
Cây Sala là nơi Đức Phật sinh ra. Theo tục lệ, khi chuẩn bị đến kỳ mãn nguyệt khai hoa Hoàng Hậu Maya cùng với đoàn tùy tùng về nhà cha mẹ để sinh. Dọc đường, bà dừng chân nghỉ dưới gốc một cây Sala ở khu rừng Lumbini, ngoại thành Kapilavatthu, thuộc nước Nepal ngày nay. Cơn đau sinh ập đến, bà tìm nơi bấu víu và cây liền nghiêng nhánh xuống cho bà vịn. Hoàng Hậu vừa vin cây thì cậu bé Siddharta ra đời và sau này tu luyện trở thành Đức Phật. Hình ảnh cây Sala vươn nhánh xuống cho hoàng hậu vịn trong lúc sinh hạ mang rất nhiều ý nghĩa.
Khi biết mình sắp viên tịch, Phật hành trình đến đền Càpàla, xứ Vesàli làm lễ, rồi di chuyển thêm một lộ trình khá dài đến tiếp Kusinàra. Mặc dù bị bệnh khá nặng nhưng Phật vẫn kiên quyết đi bộ, vượt sông đến rừng Sala, xứ Kusinàra. Đoạn đường này dù chỉ có chừng 9km nhưng Phật phải đi mất khoảng 3 tuần, dừng nghỉ đến 25 lần vì bệnh và mệt.

Kinh Đại Bát Niết Bàn (Trường Bộ I), Phật dạy: “Đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết bàn, này Ananda, đó là Thánh tích, người thiện tín cần chiêm ngưỡng và tôn kính”. Như vậy, đến Kusinàra để nhập diệt là mục đích của Phật. Ngay cả Tôn giả Ananda cũng ngạc nhiên, thắc mắc về việc này: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé, hoang vu và phụ thuộc này. Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như Campà (Chiêm Bà), Ràjagaha (Vương Xá), Sàvatthi (Xá Vệ)…, Thế Tôn hãy diệt độ tại những chỗ ấy”. Cũng nhờ sự thắc mắc này, Thế Tôn giải thích rằng, sở dĩ chọn Kusinàra để diệt độ vì đây là nơi Ngài đã xả bỏ thân mạng trong quá khứ. “Ta đã từng sáu lần làm Chuyển luân Thánh vương và bỏ xác tại đây, nay Ta thành Vô thượng Chánh giác lại cũng muốn bỏ xác tại đây” (Kinh Du Hành, Trường A Hàm I; Kinh Đại Thiện Kiến Vương, Trung A Hàm II). Theo ngài Narada, “Đức Phật chọn Kusinàra để nhập diệt vì ba lý do. Lý do đầu tiên là để thuyết bài pháp Mahàsudasana Sutta nhằm khuyến khích đời sống đạo hạnh. Thứ nhì là để dẫn dắt Subhadda, người đệ tử cuối cùng của Ngài, vì ngoài Đức Phật ra không ai có thể cảm hóa vị này được. Thứ ba là để cho vị Bà la môn Dona có thể phân chia Xá lợi của Ngài một cách êm thắm giữa những người sùng mộ Ngài” (Đức Phật và Phật pháp, tr.225).
Kinh Đại Bát Niết Bàn ghi, khi đến Kusinàra, vào trong rừng sa la, Ngài nằm đầu hướng về phương Bắc, giữa hai cây Sala(thala) song thọ. Lúc bấy giờ, Sala song thọ nở hoa trái mùa, tràn đầy cành lá. Những đóa hoa này rơi xuống, tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài.
Theo kinh Đại Bổn Duyên, Trường A Hàm I, cội sa la là Đạo tràng chứng đắc Vô thượng giác của Đức Phật Tỳ Xá Bà. Kinh điển cũng ghi rằng, khu rừng Sala nơi Thế Tôn nhập diệt vì đau thương sầu thảm, khô héo và mang màu trắng như chim hạc, nên còn gọi là Hạc lâm. Đặc biệt là bốn cây Sala song thọ gần nơi sàng tọa của Phật nằm lúc nhập diệt, mỗi cây chỉ có một nhánh khô héo, chuyển sang màu trắng, cành lá hoa quả đều rơi rụng nhưng nhánh kia vẫn xanh tốt. Bốn cây này được gọi là tứ khô tứ vinh thọ (bốn cây, mỗi cây có một nhánh sống và một nhánh chết).
Song thọ ở phương Đông tượng trưng cho Thường và Vô thường; song thọ ở phương Tây tượng trưng cho Ngã và Vô ngã; song thọ ở phương Nam tượng trưng cho Lạc và Bất lạc; song thọ ở phương Bắc tượng trưng cho Tịnh và Bất tịnh (Đại Niết Bàn kinh sớ, quyển 1). Chính hình ảnh của bốn cây Sala “không phải sống mà cũng không phải chết” này đã nói lên sự thị hiện Niết bàn “sanh nhi bất sanh, diệt nhi bất diệt” của Thế Tôn. Niết bàn là vô sanh, bất diệt giữa muôn trùng sanh diệt. Bốn nhánh Sala còn xanh tốt trong màu trắng tang thương của Hạc lâm biểu trưng cho bốn đức Niết bàn. Chính giữa vô thường biến chuyển mới làm sáng tỏ cái chân thường, vạn pháp không đối lập mà dung nhiếp; tuy hai mà một, tuy một mà hai. Vì vậy mà Thế Tôn đã chọn rừng Sala làm nơi nhập diệt.
Như vậy, Thala (Sala, Ngọc Kỳ Lân) là cây thiêng (linh thọ) trong Phật giáo, giống như cây Bồ đề. Lúc ngài Huyền Trang đến Kusinàra chiêm bái, rừng Sala chỉ còn bốn cây, hiện nay còn hai cây là những chứng tích thiêng liêng. Do đó, trồng cây Sala để ngưỡng vọng Thế Tôn, hướng về Thánh tích, thú hướng Niết bàn là chuyện nên làm. Quan niệm Sala là cây “diệt pháp” và không nên trồng là hoàn toàn thiển cận và sai lạc.
III. BÀI HỌC TỪ CÂY THALA (SALA, NGỌC KỲ LÂN, ĐẦU LÂN)
Một ngày nào đó, bạn bớt chút thời gian thử tìm ngắm cây và hoa Thala, bạn sẽ cảm nhận được cái đẹp từ loài cây này và người ta có thể suy ngẫm nhiều điều, sẽ thấy lòng nhẹ nhàng hơn.
Ở Việt Nam, đạo Phật đã thấm sâu vào cuộc sống, dù nhiều người khai trong lý lịch là không tôn giáo nhưng vẫn tin và làm theo những triết lý và quy tắc Phật giáo. Ngày nay trong thế giới phẳng của toàn cầu hóa với những bầy thú điện tử, con người ta quay cuồng vì tiền bạc và địa vị. Nhưng người ta vẫn cần dành chút thời gian để quay về với cuộc sống hàng ngày, vẫn cần quan tâm đến những điều tưởng như nhỏ nhoi, vẫn cần lắm những đức tin về cuộc sống, cần phải đối xử công bằng với cỏ cây muông thú.
Nhớ tới cây Sala – nơi Phật sinh ra, cũng như nhớ tới mảnh đất chôn rau cắt rốn. Nhớ để bảo vệ gìn giữ từng tấc đất của Tổ quốc mình. Nhớ tới cây Sala – nơi Phật mất đi, cũng là nhớ tới quy luật sinh tồn tái tạo. Nhớ để duy trì bản sắc dân tộc, tạo sự trường tồn của nền văn hóa Việt.
Mua bán Cây Xanh, Cây Cảnh
LIÊN HỆ ĐẶT CÂY: 0909.551105 MR BÌNH

Post has attachment
BÁN CÂY LỘC VỪNG GIÁ RẺ
Cây Lộc Vừng hay còn gọi là cây Mưng, có tên khoa học là Barringtoria Acutangula Gaertn – Barrtngtonia Ocutangulag. Đây là loại cây nằm trong bộ bốn loại cây QUÝ theo phong thủy phương đông là: SANH – SUNG – TÙNG – LỘC, hiện nay cây Lộc Vừng rất được ưa chuộng ở Việt Nam, đặc biệt là khu vực miền Bắc và thường được các DN, các tòa nhà cao ốc văn phòng lớn chọn làm vật trang trí cũng như phong thủy.

Phân tích theo tên của cây thì Lộc ứng với tài lộc, Vừng ngụ ý tuy nhỏ nhưng có rất nhiều. Cộng với hoa của cây thường có màu đỏ sặc sỡ rất đẹp là biểu tượng cho sự thịnh vượng, phát tài phát lộc giống như hạt vừng, tuy nhỏ nhưng đẹp và rất nhiều. Thêm nữa là nó thường đem lại sự bình yên và phát triển về khía cạnh kinh tế cho gia chủ. Chính vì thế hiện nay, Lộc Vừng là loại cây đang rất HOT và rất được người tiêu dùng yêu thích.
Về tuổi thọ thì cây có thể số hàng trăm năm, dễ tạo dáng, dễ nhân giống bằng con đường vô tính bằng cách: giâm cành vào mùa Thu hoặc Đông và chiết cành vào mùa Xuân – hạ hoặc hữu tính bằng cách: gieo quả đã chín. Cây thường sống nhiều ở khu vực thượng nguồn sông Mã, sông Cả, sống ở khu vực ven các bờ nước (bản thủy sinh) hoặc nhiều ở các khu vực miền đồng bằng.
Làm cây cảnh Theo đánh giá của nhiều người, Lộc Vừng là một loại cây rất đẹp và mang lai nhiều ý nghĩa. Theo phong thủy, cây Lộc Vừng thường biểu trưng và mang lại sự tài lộc và may mắn cho người chủ nên loại cây này rất thích hợp để làm quà tặng trong những dịp tân gia, hay năm mới.
Do cây Lộc Vừng có tuổi thọ khá lâu, trung bình 100 năm, lại có nhiều cành, dễ dàng trong việc uốn, sửa, hoa có màu đỏ đẹp, chính vì thế nhiều người dân nước ta cũng như một số nước châu Á thường chọn cây Lộc Vừng làm cây cảnh để chưng trong chậu hoặc cây cảnh cổ thụ trang trí trong các khoảng sân ở các tòa cao ốc văn phòng, cty, … Ở nước ta, cây Lộc Vừng tự nhiên thường sống nhiều ở khu vực Đồng Tháp Mười, khu Tứ Giác Long Xuyên cũng như vùng ven biển Nam Bộ. Do có tuổi thọ lâu, ít bị sâu bệnh cũng như hoa và quả của cây rất đẹp giá thành của cây rất đắt, chính vì thế cây thường bị đốn chặt khá nhiều dẫn đến số lượng cây Lộc Vừng tự nhiên bị suy giảm nghiêm trọng.

SỰ TÍCH CÂY LỘC VỪNG
Lộc vừng là loài cây dễ tính và dễ thích nghi, hoa dài và rực đỏ như lúc nào cũng mang đến may mắn và tài lộc, cành lá xanh tươi luôn mọc dài và vươn thẳng được nhiều người chơi cây cảnh ưa thích. Nhưng có mấy ai biết sự tích cây Lộc vừng gắn liền với một chuyện tình cảm động.
Chuyện kể rằng, từ lâu lắm rồi, ở một làng bản xa xôi kia có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Họ cùng nhau thề rằng nếu không được sống cùng nhau, họ sẽ chết cùng nhau. Chàng trai đâu biết rằng vẻ tuấn tú và tài năng của chàng đang là niềm mơ ước của nhiều cô gái và cũng là nỗi ghen tức, căm giận của nhiều chàng trai quanh vùng. Còn cô gái vốn xinh đẹp, nết na nên có rất nhiều chàng trai muốn lấy về làm vợ, trong đó có tên công tử con nhà trưởng bản. Biết không thể nào chiếm được trái tim cô gái, hắn tìm kế hãm hại chàng trai. Hắn sai chàng vào rừng tìm báu vật cho lễ hội của làng.
Rừng thiêng nước độc đã quật ngã chàng, làm cho chàng chết đi trong bệnh tật và kiệt sức. Cô gái chờ đợi mãi, quá nóng lòng nên quyết tâm trốn nhà, lặn lội đi tìm người yêu. Cô đi mãi, đi mãi cho đến lúc đôi chân rã rời không muốn bước thì tìm thấy xác người yêu. Cô đau đớn ôm xác người yêu khóc vật vã. Chôn cất người yêu xong, cô khóc ngày khóc đêm cạnh nấm mồ đó. Nước mắt rơi xuống cứ cạn dần, đến một ngày cô không còn khóc được nữa và ngã gục xuống bên cạnh nấm mồ. Khi cô chết đi, trên nấm mồ của chàng trai, nơi những giọt nước mắt của cô chảy xuống bỗng mọc lên một loài cây có thân sần sùi, cành lá xum xuê và đặc biệt là có những chùm hoa thả xuống cạnh mồ như hỏi han, như che chở cho nấm mộ chàng trai. Người ta gọi đó là hoa lộc vừng – một loài hoa tượng trưng cho tình yêu chung thuỷ của người con gái. Có lẽ vì vậy mà màu hoa đỏ đến nao lòng.
CÔNG DỤNG CÂY LỘC VỪNG
Ngoài công dụng làm kiểng, Đọt và lá non cây Lộc Vừng dùng làm rau Ở các nước Đông Nam Á, nhất là Việt Nam chúng ta, lá cây Lộc Vừng thường được xem như là một loại rau đặc sản chuyên dùng để ăn sống và nấu canh chua. Thế nhưng người Châu Âu lại rất sợ loại lá cây này vì chúng có chứa rất nhiều chất Saponins vô cùng độc hại. Chính vì thế, tôi xin khuyên các bạn nào đang đọc bài viết này cũng như có thói quen ăn lá cây Lộc Vừng thì nên ngưng ngay việc ăn loại lá này nhé. Dù hiện nay có khá nhiều nhà hàng sang trọng lại quảng cáo việc ăn loại lá này như là một mốt thời đại! Quả cây Lộc Vừng dùng làm chất độc diệt cá Theo kinh nghiệm dân gian, được lan truyền thì ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á cũng như Nam Á, quả cây Lộc Vừng đâm nát có thể dùng làm bả, làm mồi để diệt cá trong các sông, suối, ao, hồ khiến cho cá khờ và dễ bắt. Thế nhưng cách làm này lại không phổ biến ở Việt Nam.
Các bộ phận cây Lộc Vừng dùng làm thuốc chữa bệnh
a/ Theo Đông y Cây Lộc Vừng có những đặc tính như: Rễ đắng, có tính hạ nhiệt, Hạt thơm. Công dụng: Phần rễ được dùng để bào chế các loại thảo dược dùng để trị bệnh sởi. Quả dùng trị ho và hen suyễn. Phần hạt có thể giã nhuyễn ra, trộn chung với các loại bột và dầu, có thể dùng để trị tiêu chảy. Bên cạnh đó, phần hạt của cây Lộc Vừng còn được dùng để trị đau bụng, cách bệnh về mắt, …
Quả Lộc Vừng xanh (chưa chín) có thể dùng để ép thành nước, bôi vào các vết chàm có thể giúp chữa khỏi hoặc cũng có thể dùng để ngâm rượu để chữa nhức răng. Vỏ cây do có chứa nhiều tanin (như các loại trà) nên có thể dùng để chữa bệnh tiêu chảy hay đau bụng từng cơn.
b/ Theo Tây Y Các hoạt chất được chiết xuất từ rễ và quả của cây Lộc Vừng được Tây Y xác định là có thể dùng để:
1/ Chống viêm: được sản xuất dạng tân dược.
2/ Sản xuất thuốc kháng sinh: Đang phát triển
3/ Chống các loài vi khuẩn gây viêm loét dạ dày, tá tràng: Các loại vi khuẩn này có thể gây ra bệnh ung thư dạ dày.
4/ Chiết xuất của hạt Lộc Vừng hoa đỏ có tác dụng chống ung thư.
5/ Chiết trong vỏ và hạt cây Lộc Vừng có tác dụng giảm đau.
6/ Chất chiết trong vỏ và hạt cây Lộc Vừng có tác dụng kháng nấm. Hiện nay có nhiều sản phẩm tân dược từ cây Lộc Vừng đã được sản xuất và lưu hành trên thế giới.
Mua bán Cây Xanh, Cây Cảnh
LIÊN HỆ ĐẶT CÂY: 0909.551105 MR BÌNH

Post has attachment
Chuyên mua bán Cây Bồ Đề, Cây Công trình, Cây Sân Vườn
Liên hệ: 0909.551105 Mr Bình
Cây Bồ đề có tên khoa học là Ficus religiosa. Theo các điển tích về Phật giáo, cây Bồ đề đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của Đức Phật. Đức Phật đã ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ Đề và từng bước giác ngộ được các giáo lý của Phật giáo.

Sự Tích Cây Bồ Đề
Phật giáo là một trong những tôn giáo có lịch sử lâu đời trên thế giới. Thiên chúa giáo xuất hiện sau Phật giáo 600 năm. Hồi giáo (Mahammad) cũng bắt đầu truyền đạo sau Phật giáo 1200 năm. Vì vậy hai tôn giáo thế giới lớn sau này cũng đã ảnh hưởng Phật giáo rất nhiều. Ở Ấn Độ, Phật giáo đã thấm sâu vào lòng dân Ấn khoảng 1500 năm và đã bắt đầu gặp sự thù địch của những người theo đạo Á-rập, những người đã xâm lăng Ấn Độ hơn 1000 năm trước.
Sau đó 700 năm, Phật giáo đã hoàn tòan bị hủy diệt ở vùng đất phát sinh ra nó, những thánh tích như Bồ Đề Đạo Tràng (Buddha-Gaya), Sarnath (Benares), núi Linh Lhứu (Rajagriha) v.v… đều bị đập phá tan nát. Những đệ tử Phật đã phải bỏ trốn lưu vong qua đất nước núi đồi Tây Tạng mang theo kinh điển của Phật giáo. Vì vậy, sau này khi hồi phục lại, kinh điển Phật giáo ở Ấn Độ đã được tìm thấy rất nhiều ở Tây Tạng.
Bồ Đề Đạo Tràng đã bị lịch sử quên lãng trong vài thế kỷ, không một đòan hành hương Phật giáo nào đến chiêm ngưỡng đảnh lễ. Tuy nhiên, ngày nay Phật giáo tại Ấn Độ đang từng bước khởi sắc lại, Bồ Đề Đạo Tràng nói chung và cây Bồ Đề – nơi Đức Phật ngồi thiền và giác ngộ nói riêng cũng đang được khôi phục trở lại. Nhân ngày lễ kỷ niệm Phật Thành Đạo – Phật lịch 2545 đặc biệt được tổ chức tại Bồ Đề Đạo Tràng này, tôi xin được giới thiệu Vài nét về qúa trình tiến triển của cây Bồ Đề từ thời Đức Phật cho đến nay.
Cây Bồ Đề (Bodhi tree) được gọi là “asvatthi,” hoặc là cây Đa (Pipal, pippali). Theo định nghĩa thực vật học, cây Bồ Đề là “ficus religiosa” nghĩa là biểu tượng cho trí tuệ và sự giác ngộ của Đức Phật, nên gọi là “cây giác ngộ,” hoặc thường được gọi là “cây Bồ Đề.”
Theo các nhà khảo cổ học cây này được coi là thiêng liêng ngay từ buổi bình minh lịch sử của nền văn minh Indus. Trong bộ Rig Vê đa, bộ kinh tôn giáo cổ nhất của dân tộc Aryans ở Ấn Độ đã cho biết rằng cây Bồ Đề này được kính trọng như vật thiêng liêng ngay từ thời đó.
Thật ra, trước khi Phật giáo xuất hiện tại Ấn Độ thì cây này cũng được trồng rất nhiều tại đất nước này. Con người ngày xưa rất kính trọng và kiêng sợ những vật to lớn như cây cổ thụ, những hang đá khổng lồ, các dãy núi đồ sộ … vì họ nghĩ rằng đó là nơi trú ngụ của các thần linh, các linh hồn và thậm chí của những ma quỷ xấu ác. Trong thời gian Đạo Phật xuất hiện ở Ấn Độ, lòng tin về những cây này là nơi cư ngụ cho chư thiên và ma quỷ càng thấm sâu hơn nữa. Và trong kinh điển Phật giáo như: Vimanavatthu và Petavatthu cũng đã kể nhiều câu chuyện liên quan đến chổ cư ngụ của chư thần và ma quỷ trên cây.
Khái niệm thờ cây đạt đến đỉnh cao trong việc thờ cây Bồ Đề. Sự quan trọng của nó không chỉ nằm ở bản chất hùng vĩ của cây mà còn là sự kết hợp của sự chứng đạt vĩ đại nhất của Đức Phật, đó là giác ngộ. Vì vậy, cây Bồ Đề từ một cây thông thường đã được coi như biểu tượng của chính sự hiện diện của Đức Phật và sự chứng ngộ Phật quả. Có một sự kiện về cây Bồ Đề đã xảy ra ngay khi Đức Phật đạt giác ngộ. Đức Phật đã trải qua trọn một tuần lễ bảy ngày nhìn vào cây Bồ Đề với ánh mắt biết ơn cây đã che chở cho Ngài những đêm mưa gío bão bùng, những ngày nắng đốt như lửa trong suốt thời gian qua cho đến khi Ngài đạt giác ngộ. Tất cả những sự kết hợp này đã tạo nên những đặc tính của cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng – cây giác ngộ.
cay bo de Cây Bồ Đề
Cây Bồ Đề
Sớ luận của Anguttara Nikaya cho biết rằng cây Bồ Đề phải được kính thờ, chỉ trừ trường hợp nếu nhánh cây Bồ Đề làm chướng ngại mái nhà, bàn thờ, hoặc nó bị mục, hoặc chim đậu dựa trên cây làm dơ bẩn chốn tôn nghiêm chùa chiền thì chúng ta được phép cắt bỏ đi. Theo luật của người Tích Lan trình cho chính phủ Hà Lan vào hậu thế kỷ 18 là nếu ai phá hủy chùa, cây Bồ Đề cùng những tài sản thuộc tôn giáo thì sẽ bị chính phủ Tích Lan (Sinhala) quy tội chết.
Tại Ấn Độ ở mỗi chổ di tích tôn giáo là di sản văn hóa chung chẳng những của Ấn Độ mà cho cả tòan nhân loại cho nên được bảo vệ rất cẩn thận và mỗi nơi thánh địa đều có bản thông báo chung là nếu ai đập phá làm hư hoại di sản này sẽ bị phạt tội rất nặng. Có luật của chính phủ Ấn xét xử nghiêm minh.
Bình luận về việc thờ phượng cây Bồ Đề hiện nay, nhà đại học giả Phật giáo Rhys Davids đã thận trọng nhắc chúng ta rằng việc thờ phượng đối với những vật thể bên ngoài như cây cối là việc không thật sự ích lợi, nhưng vì cây Bồ Đề này có ý nghĩa tượng trưng cho cuộc đời Đức Phật và sự giác ngộ tối thượng của Ngài. Ngày nay, những hình thức nghi lễ xung quanh cội gốc Bồ Đề ngày một phát triển và không chút suy giảm nào dù đã trải qua nhiều thế kỷ.
Những người nào thực hiện những nghi lễ thờ phượng cây Bồ Đề được gọi là “Bodhi Puja.” Bodhi Puja trong ý nghĩa tinh thần là “giác” (bodhi), nghĩa là sự giác ngộ của Đức Phật nhưng trong thực tiển “bodhi” chỉ có nghĩa là một cây Bồ Đề, là một trong những loại cây cổ thụ thế thôi. Vì vậy, ý nghĩa chính của việc thờ phượng tu tập dường như bị mất đi mà chuyển thành hình thức của việc thờ cây đang thịnh hành tại Ấn Độ và khắp nơi suốt trong thời tiền Phật giáo. Ngày nay Bodhi Puja đang thịnh hành ở những nơi tôn nghiêm thiêng liêng và đã hình thành thành một nghi lễ trang trọng chính thức. Những tràng hoa tươi đẹp, những ánh nến lung linh, khói hương trầm thơm ngát, cờ phướng nhiều màu bay phất phới khắp cây Bồ Đề, dưới cội Bồ Đề và ở xung quanh … đã làm cho cây Bồ Đề thiêng liêng mang đầy tính tôn giáo.
Trong kinh Đại Niết-bàn (Maha-Parinibbana) thuộc Trường Bộ Kinh, [4] Đức Phật tuyên bố với ngài Anan rằng Bồ Đề Đạo Tràng nơi có cây Bồ Đề là một trong bốn thánh địa mà người con Phật với lòng kính tin nên đến để chiêm ngưỡng lễ lạy và ngài thêm rằng “Người nào thác sanh với lòng tin tưởng khi đi chiêm bái này sẽ được tái sanh vào cõi an vui.”[5] Sự thiêng liêng của cây Bồ Đề như là một biểu tượng của sự giác ngộ và như là hiện thân của chính Đức Phật. Một lần khi chúng đệ tử đến viếng thăm đảnh lễ Đức Phật ở tu viện Jetavana (Ở Sravasti) lúc đó đại phú Cấp Cô Độc (Anathapindaka) thưa với trưởng lão A-nan trình với Phật nên thiết lập một nơi tôn nghiêm để dâng hương hoa trà quả … trong lúc Đức Phật đi vắng khỏi tu viện Jetavana. Từ việc này, Đức Phật kêu chiết một nhánh Bồ Đề từ cây Bồ Đề ở Bồ Đề Đạo Tràng để trồng ở cổng tu viện Jetavana. Sau đó để khiến cho cây thiêng liêng hơn, Đức Phật đã ngồi thiền dưới gốc cây Bồ Đề này trọn một đêm. Và cây Bồ Đề đó cũng trở thành một đối tượng để thờ phượng.
Trong ý nghĩa đó, cây Bồ Đề này được nhận thức không chỉ là đối tượng cho giới Phật giáo kính lễ mà còn là một sự biểu hiện tượng trưng cho chính đời sống của Ngài và sự chứng đạt vĩ đại của Ngài. Việc trồng cây Bồ Đề như là một đối thể thiêng liêng, đặc biệt khi mà hình ảnh, tượng Phật chưa được phổ biến ở Ấn Độ. Trong kinh Bổn sanh Kalinga-Bodhi[6] và Kosiya[7] đã kể rằng trong suốt thời gian Phật còn tại thế cây Bồ Đề rất được kính trọng và thờ phượng như Đức Phật. Cây Bồ Đề được xem là một trong ba đối tượng thiêng liêng, cùng với chùa (cetiya) và điện tháp (patimaghara) cần được thờ phượng. Cả ba đối tượng này được coi trọng như nhau. Tuy nhiên giữa những vật này, thì xá-lợi của Phật được coi trọng và tôn quý hơn cả.
Sau khi Phật nhập diệt, Hoàng đế A-dục đã hết lòng bày tỏ tâm cung kính của mình và lòng tôn trọng bảo vệ cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng. Vị Hoàng đế Phật tử này đã sai con gái mình là công chúa mà sau này trở thành Tỳ-kheo-ni Sanghamitta chiết một nhánh phía nam của cây Bồ Đề mang qua Tích Lan trồng tại thành phố cổ Anuradhapura suốt trong thời vua Devanampiyatissa trị vì. Nhánh cây Bồ Đề này vẫn còn xanh tốt cho đến ngày nay. Trong khi cây Bồ Đề gốc tại Bồ Đề Đạo Tràng đã bị hủy nhiều lần bởi nhiều thời đại sau đó. Vì vậy, cây Bồ Đề được tuyên bố trong lịch sử cây cổ nhất trên thế giới là cây được trồng tại thành phố Anuradhapura này.
Theo biên niên sử của Tích Lan, Dipavamsa (thuộc thế kỷ IV), Mahavamsa (thuộc thế kỷ V) và Samanta-Pasadika (thế kỷ V) được viết bằng hai ngôn ngữ Pali và Tích Lan cho biết rằng trong lúc vua Devanamapyatissa trị vì vào thế kỷ III trước Tây lịch, thì con trai của Đại đế A-dục là Tỳ kheo Mahinda đã đi truyền đạo tại Tích Lan và đã cảm hóa được vua chúa cũng như những người dân ở hòn đảo bình yên này. Và Ngài đã thành lập Tăng già Phật giáo đầu tiên tại đây.
Trong thời gian Ngài Mahinda ở Tích Lan, Ngài đã khuyên vua Devanamapyatissa kiến nghị vua A-dục biếu một nhánh cây bồ đề tại Bồ đề Đạo Tràng để trồng ở thủ đô Anuradhapura, Tích Lan.
Con gái của vua A-dục là Tỳ-kheo-ni Sanghamitta đã qua thăm Tích Lan với mục đích thành lập ni đòan Phật giáo cho giới nữ tu và đã mang nhánh Bồ Đề này qua Tích Lan.Sau này người dân Tích Lan đã gọi cây Bồ Đề tại Tích Lan này là “Sri- Maha-Bodhi,” nghĩa là cây Bồ Đề thiêng liêng.
Nói về dữ kiện của cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng và tại Tích Lan, báo The Maha Bodhi, Buddha Gaya, tháng 7, 1903 nói rằng:
“Cây Bồ Đề mà Đức Phật Bhagawan ngồi thiền trước kia bây giờ không còn nữa. Cây đã bị hủy diệt năm 1874 (Pl. 2418). Một nhánh của cây Bồ Đề này đã được Tỳ-kheo-ni Sanghamitta, con gái vua A-dục mang đến trồng tại thủ đô Anuradhapura, Tích Lan. Khi cây gốc bị hủy diệt năm 1874, một nhánh cây con mới mọc lên và đó là cây Bồ Đề sum suê tại Bồ Đề Đạo Tràng hiện nay. Cây mọc rất tươi tốt và rậm đầy lá xanh.”
Khi Hòa thượng Anagarika Dhammapala (người thành lập Hội Maha Bodhi tại Ấn Độ và trên thế giới) đã viếng thăm Bồ Đề Đạo Tràng vào ngày 22-1891 lần đầu tiên người đã quá sung sướng và xúc động trước những thánh tính thiêng liêng liên quan đến cuộc đời và sự giác ngộ của Đức Phật nhưng ngài đã quá đau lòng khi thấy sự suy tàn hư hoại của thánh địa này. Ngài đã ngồi bên cạnh tòa Kim cang (Vajrasana) dưới cội Bồ Đề và phát nguyện sẽ hồi phục lại những di tích nơi sanh ra Đạo Phật này. Hòa thượng là một trong những người có công lớn đầu tiên trong việc khôi phục Phật giáo tại Bồ Đề Đạo Tràng nói riêng và Phật giáo Ấn Độ nói chung trong thời điểm của thế kỷ XIX-XX. Và cũng từ nền tảng xây dựng của Hòa Thượng, Hội Maha Bodhi ngày nay đã phát triển và có mặt ở nhiều nước trên thế giới.
Ngày 11/11/1931 ngôi chùa Mulagandhakuti ở Sarnath do Hòa thượng xây dựng được khánh thành. Ngài Thống Đốc Ấn Độ Willingdon và Giám đốc Viện Khảo Cổ Học đã đồng ý mang Xá-lợi của Phật để thờ tại chùa này.[9] Và ba nhánh cây Bồ Đề được chiết từ cây Bồ Đề ở thủ đô Anuradhapura, Tích Lan cũng được mang về trồng tại chùa Mulagandhi ở Sarnath. Ba nhánh Bồ Đề này như ba đứa trẻ của cùng một bà mẹ Bồ Đề ở Tích Lan mà có gốc gác quê quán tại Bồ Đề Đạo Tràng đã cùng phát triển tươi tốt trong một bức tường bao quanh giữ gìn. Đã hơn 50 năm rồi, hiện nay ba cây Bồ Đề chung một tòa xi-măng đã phát triển giống như ba nhánh của một cây, trở thành một nơi thiêng liêng để thờ phượng chiêm ngưỡng cho giới Phật giáo.
Như vậy, từ cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng trong thời Đức Phật đã được chiết tới trồng tại cổng tu viện Jetavana ở Shravasti. Rồi khoảng thế kỷ thứ III trước tây lịch, một nhánh phía nam của cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng được chiết trồng tại Tích Lan. Sau đó vào thế kỷ XX, ba nhánh Bồ Đề tại Tích Lan lại được mang về Ấn Độ và trồng tại Sarnath, Vườn Nai- Nơi Đức Phật chuyển pháp luân trao gởi bức thông điệp cứu khổ lần đầu tiên cho năm anh em Kiều-trần-như và tất cả loài người chúng ta.
Chúng ta cũng có thể tìm thấy những ghi nhận quý giá đầu tiên về cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng này sau khi Đức Phật nhập diệt qua các ký sự hành hương của các nhà chiêm bái Trung Quốc.
Ngài Pháp Hiền đã viếng Bồ Đề Đạo Tràng vào năm 400 và trong ký sự hành hương của mình, Ngài đã mô tả về Bồ Đề Đạo Tràng như sau:
“Sa-môn Cồ-đàm đi tới phía trước, đến dưới gốc cây pei-to, trải cỏ cát tường, mặt hướng về phía đông. Ngài bắt đầu an tĩnh tâm và suốt bảy ngày Ngài an hưởng trạng thái an lạc giải thoát đó. Cũng tại nơi này, người ta đã xây một cái tháp đánh dấu nơi Ngài đã đi kinh hành trong bảy ngày từ phía đông qua tây trong khi các chư thiên đã xuất hiện với bảy báu cúng dường tán thán Đức Phật. Cũng có một cái tháp đánh dấu nơi con rùa mù Mucchalinda đã bao quanh Phật và lấy đầu làm phướng che đầu Ngài khỏi cơn bảo táp. Cũng có tháp nơi Đức Phật ngồi trên hòn đá vuông dưới bóng cây Nyagrodha, mặt hướng về phía đông đang nhận sự lễ bái cúng dường của một vị Bà-la-môn; cũng có một cái tháp đánh dấu bốn vị Thiên vương cung kính cúng dường Ngài bình bát quý. Cũng có tháp đánh dấu 500 vị thương buôn dâng cúng Ngài bánh bắp và mật … “
Hoặc như Ngài Huyền Trang đã đến Ấn Độ vào năm 629 và đã trải qua 16 năm chiêm bái cũng như tu học ở đây. Trong ký sự của mình, ngài đã kể về Bồ Đề Đạo Tràng như sau:
“Đi về phía tây nam từ đỉnh núi Pragbudhi khoảng 14, 15 dặm, chúng ta sẽ đến cây Bồ Đề. Cây này được bao quanh bởi một bức tường gạch cao lớn và vững chắc. Bức tường này hình chữ nhật dài từ đông sang tây, ngắn từ bắc tới nam. Chu vi của nó khoảng 500 bước. Những loại cây hiếm với những đóa hoa xinh đẹp kết tàng lại với nhau. Những cây biển bá với những cây khác mọc đầy cả nền tạo thành một tấm thảm trên đất. Cánh cổng chính mở ở phía đông, đối diện với sông Ni-liên-thuyền (Nairanjana) rộng lớn. Bên trong bức tường bao quanh nơi thánh địa này có nhiều lối đi ngang chéo lẫn nhau ở các hướng. Ở đây có nhiều tháp và đền. Nhiều vị Vua, Hoàng tử và những người nổi tiếng ở Nam thiệm bội châu (Jambudvipa) có lòng tin với đạo đã xây nhiều chùa tháp ở đây để kỷ niệm.
Chính giữa khu tường là tòa Kim cang (Vajrasana) nơi Đức Phật ngồi thiền. Trong thời xa xưa khi đời Hiền kiếp đã đến lúc viên mãn, khi quả đất được tạo ra thì tòa Kim cang (Vajrasana) này cũng đã xuất hiện. Nó nằm ngay giữa trung tâm của vũ trụ và đi sâu vào Kim luân rồi ăn sâu xuống lòng đất. Nó được tạo thành bởi kim cương. Chu vi khoảng chừng 100 bước, trên tòa này có 1000 vị Phật đời Hiền kiếp đã ngồi và nhập kim cang định vì vậy mà tòa này được gọi là tòa Kim cang (Vajrasana). Đây là nơi Đức Phật đã đạt thánh đạo, vì vậy nó cũng được gọi là Bồ đề Đạo Tràng.
Cây Bồ Đề bên tòa Kim cang (Vajrasana) chính là cây Tatpala, giống như cây đa (pippali). Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế cây cao vài trăm feet [11] vì bị chặt đốn nhiều lần. Vì bị chặt đốt nhiều lần nhưng nó vẫn còn cao khoảng 40, 50 feet. Đức Phật đã ngồi đạt đạo dưới đây nên cây được gọi là cây Tam miệu tam Bồ Đề (Samyak sambodhi, Bodhi druma). Thân cây màu vàng trắng. Lá và nhánh cây màu xanh đậm. Lá không bị úa ngay cả trong mùa đông hay mùa hạ, mà chúng vẫn sáng bóng và xanh mát suốt năm không thay đổi. Nhưng vào ngày Đức Phật nhập niết bàn lá ở đây úa và rơi xuống, nhưng thật kỳ diệu thay ! Sau đó không bao lâu lại tươi tốt như trước đó. Vào những ngày lễ, nhiều đòan hành hương từ nhiều nước đã tập trung tại đây số đông đến hàng ngàn người. Họ thi nhau tưới nước trầm, sữa tươi thơm vào cội Bồ Đề, rãi hoa tươi và dầu thơm để cúng dường. Những cờ, phướng, đèn, nến luôn luôn chiếu sáng lung linh tại cây Bồ Đề và xung quanh đó.
Cây Bồ Đề bị chặt đầu tiên sau khi Đức Phật nhập diệt là do vua A-dục. Vua A-dục trong những ngày đầu trị vì là một vị ngoại đạo và muốn tiêu diệt những dấu vết của Đức Phật nên đã triệu tập một quân đội, ông đã thân hành dẫn đòan quân đến đây để tiêu diệt cây Bồ Đề. Ông đã đốn cây tận rễ, chẻ thân, cành và nhánh cây thành những miếng gỗ nhỏ vụn và đổ về phía tây nơi đó. Sau đó ông đã ra lịnh cho một người Bà-la-môn làm lễ thiêu đống gỗ để cúng dường Phạm thiên. Không lâu sau khi những đợt khói tan biến thì lạ kìa, một cây Bồ Đề được mọc lên từ đống tro tàn với những cành lá lung linh như lông vũ, cây này được gọi là “cây Bồ Đề từ đống tro tàn.” Vua A-dục thấy sự nhiệm màu này liền sanh tâm hối hận. Ông đã dùng sữa thơm tưới vào gốc cây cũ để bón nó và kìa! Sáng hôm sau cây Bồ Đề đã lớn mạnh như cũ. Nhà vua mục kích sự mầu nhiệm này nên tăng trưởng lòng tin mạnh mẽ nên đã phát tâm cúng dường cây, ông cảm thấy an lạc đến độ quên mất việc quay về cung. Hoàng hậu, một tín đồ của Bà-la-môn đã cho một người lén đốn cây vào đầu đêm. Sáng hôm sau khi nhà vua đến để lễ cây thì chỉ còn thấy cái gốc bị chặt nên vô cùng đau lòng. Với tất cả lòng thành Ngài đã cầu nguyện và tưới gốc cây bằng sữa thơm. Không đầy một ngày, cây Bồ Đề đã mọc lại như cũ. Nhà vua cảm động trước phép mầu này đã cho xây một bức tường cao 10 feet chung quanh cây. Bức tường này ngày nay vẫn còn thấy. Về sau vua Sasanka theo ngoại đạo và hủy báng Phật giáo đã đến để đốn cây Bồ Đề, chặt bỏ tất cả những cành nào lú khỏi mặt đất, nhưng ông không làm sao đốn được gốc cây. Ông bèn cho đốt cây và đổ nước mía để mong tiêu hủy tận gốc rễ của cây.
Sau đó vài tháng, Vua Purnavarama (Phú Lâu Na Bạt Ma) của Ma-kiệt-đà, người nối dõi cuối cùng dòng vua A-dục nghe tin đó đã than: “mặt trời của trí tuệ đã lặn, không còn gì để lại ngoài cội Bồ Đề và ngay cả nó ngày nay cũng đã bị hủy diệt, nơi nào sẽ cung cấp cho nguồn sống tâm linh.” Ông đã vật mình xuống đất vì đau buồn, sau đó dùng sữa của ngàn con bò để tưới cho cây, qua đêm cây đã một lần nữa sống lại và mọc cao hơn mười feet. Vì sợ cây sẽ bị hại một lần nữa, nên nhà vua cho xây một bức tường cao 24 feet bao bọc cây. Khi Ngài Huyền Trang đến đây thì bức tường vẫn còn cao 20 feet.
Có một người Phạm chí không tin vào Phật pháp và chỉ tôn thờ thần Ma Hê Thủ La (Shiva). Ông nghe đồn thần Ma Hê Thủ La sẽ hiện ra trên núi tuyết sơn nên đã cùng với người em đến đó để cầu nguyện. Vua Đế thích hiện ra nói: “những người cầu nguyện cần phải có một công đức lớn. Nếu ngươi cầu nguyện mà không có công đức làm căn bản thì ta không thể nào thỏa mãn lời cầu nguyện của ngươi.”
Người Phạm chí hỏi: “việc công đức nào con phải thành tựu để Ngài thỏa mãn lời cầu nguyện cho con?
“Vua Đế thích đáp: “nếu ngươi muốn làm việc công đức lớn, phải tìm một môi trường thật tốt. Cây Bồ Đề chính là chỗ thành đạt Phật quả. Ngươi hãy lập tức quay về đó và xây một tịnh xá lớn cạnh cội Bồ Đề, làm một hồ nước lớn và cúng dường tất cả mọi vật. Khi đó ngươi chắc chắn sẽ thành đạt những mong cầu.”
Sau khi nghe những lời trên, người Phạm chí và em mình liền quay về cội Bồ Đề. Người anh đã xây một tịnh xá, người em đào hồ, sau đó họ chuẩn bị những đồ cúng dường thịnh sọan và bằng tất cả trí lực họ phát lên những lời tâm nguyện, lời nguyện của họ khi đó lập tức thành tựu. Người Phạm chí được phong làm một vị quan lớn. Ông ta từ đó đem tất cả của cải để làm việc từ thiện.
… Không xa cây Bồ Đề về phía nam là một ngôi tháp cao độ 100 feet do vua A-dục dựng lên. Sau khi Bồ tát đã tắm trong dòng sông Ni-liên-thuyền (Nairanjana), Ngài đi về phía cội Bồ Đề. Khi đó Ngài nghĩ rằng: “ta phải làm một chổ ngồi bằng nguyên liệu gì? Ta phải tìm một thứ gì thật tinh khiết khi trời sáng.” Khi đó trời Phạm thiên biến thành một người cắt cỏ đi dọc theo bờ đường với một bó cỏ trên lưng. Bồ tát hướng về ông ta nói: “ngươi có thể cho ta bó cỏ đang mang trên lưng không?.
“Người cắt cỏ liền dâng bó cỏ với tất cả sự thành kính. Bồ-tát sau khi nhận của cúng dường liền đi về phía cội Bồ Đề “
Như vậy, qua những dẫn chứng cứ liệu như trên, ta có thể biết rằng trong hành trình lịch sử tìm cầu chân lý, chính dưới cội Bồ Đề bên dòng sông Ni-liên-thuyền, thuộc làng Ưu-lâu-tần-loa, thái tử Tất-đạt-đa đã giác ngộ và chỉ bày ánh sáng giác ngộ đó cho tất cả chúng ta . Đây là một sự kiện hiện hữu có thật và được lịch sử chứng minh xác nhận.
Nhà sử học Phật giáo nổi tiếng Taranath cũng đã ghi nhận rằng cuộc xâm lăng đất nước Ma-kiệt-đà của vị vua phía tây, Hunimanta vào thế kỷ I đã tàn phá đại tháp, Canopied Walk đã bị lật đổ và dĩ nhiên cây Bồ Đề thiêng liêng nằm trong khói lửa cũng không thoát khỏi số phận hẩm hiu đó. Đến cuối thế kỷ thứ VII, sau sự băng hà của vua Harsha Vardhana, triều đình lọt vào tay của Bà-la-môn Adittya Sena và những cận thần của ông. Suốt trong thời gian này, các nhà chiêm bái Trung Quốc đã viếng thăm thánh địa Bồ Đề Đạo Tràng nhiều lần và đều nói rằng cây Bồ Đề vẫn yên lặng bền bỉ sống trước sóng gió của con người và thiên tai. Và cho đến thế kỷ tiếp vào năm 700-800 thuộc triều đại của dòng họ vua Phật tử Pala, vua Purna Vermma đã trồng cây Bồ Đề lại bắt đầu năm trị vì của mình khoảng năm 813. Sau đó cây yên ổn sống cho tới cuộc xâm lăng của đội quân hùng hậu Hồi giáo Muhammad Bakhtiyar Khalji vào năm 1201 thì cây Bồ Đề đã bị gãy đổ đốt phá cùng với ngôi đại tháp thiêng liêng.
Cùng chung với số phận thăng trầm của lịch sử Phật giáo, cây Bồ Đề cũng đã biết bao nhiêu lần bị chặt đốt thiêu hủy do ngọn gió thiên tai vô thường xói mòn và do lòng người tàn ác đã biết bao lần muốn xóa tan vết tích của nó. Thế nhưng, kỳ diệu thay! Hạt giống Bồ Đề vẫn tìm cách đâm chồi nảy lộc. Sự hồi sanh bắt đầu thay cho mầm hủy diệt và trở lại xanh tốt. Điều này được chứng minh qua sự kiện Dr. Buchanan năm 1811 ông đã viếng thăm Bồ Đề Đạo Tràng và mô tả trong cuốn sách[14] của mình như sau: “cây Bồ Đề thì đang tràn trề nhựa sống và không thể quá hơn 100 tuổi được. Nhưng có một cây tương tự như vậy đã tồn tại cùng chung chỗ này khi đại tháp vừa hoàn tất công trình xây dựng.
“Thế nhưng vào tháng 12/1862, Sir Alexander Cunningham, nhà khảo cổ học nổi tiếng của nước Anh là người có đóng góp rất to lớn nếu không nói là chủ yếu trong việc khai quật di tích Phật giáo chẳng những ở Bồ Đề Đạo Tràng mà còn ở các thánh địa Phật giáo khác khắp Ấn Độ nữa đã nhận xét như sau: “cây Bồ Đề đã bị tàn úa rất nhiều, thân cây hơi ngả về phía tây với ba nhánh lớn vẫn còn màu xanh nhưng những nhánh khác thì đã bị vàng vọt mục nát.”
Lần thứ hai trong năm 1871 và lần thứ ba trong năm 1875 ông nhìn cây lại thì lúc này hoàn tòan bị héo hon mục nát và chỉ trong thời gian ngắn 1876 trong một cơn bão, cây Bồ Đề cũ đã bị cuốn phăng (có hình ảnh minh chứng giai đọan này của cây Bồ Đề do ông Pappe chụp)[16], chỉ còn lại thân cây ngã về phía tây của bức tường. Nhưng may mắn thay có nhiều hạt giống đã rơi rớt lại để rồi những mầm chồi con của cây cha mẹ chúng đã nhú mầm sinh sống lại tại nơi đó.
Sau đó năm 1880, Sir Alexander Cunningham thấy nền của tòa Kim cang (Vajrasana) lộ ra trên sân sau của bức tường đại tháp. Điều này đã khiến cho ông nghĩ rằng có thể có vài dấu vết gì đó về cây Bồ Đề cũ tức là cây Bồ Đề gốc thời Đức Phật đã sống. Vì vậy, Cunningham đã đào một đọan ngắn đến phía tây của tòa Kim cang (Vajrasana). Dưới lớp đất màu hung đỏ, đá hoa cương của tòa Kim cang (Vajrasana) lộ ra, chân tòa cao 3 feet và rộng 30 feet dưới chổ cây Bồ Đề hiện đang sống. Ông cũng khám phá ra được hai ngọn rễ dài lớn của cây Bồ Đề cũ. Một ngọn dài 6,5 inches,[17] và ngọn còn lại dài 4 inches. Có một cột trụ lớn dài 32 feet, cao 30 feet, dày 14 feet đã đứng phía sau chùa hơn 12 thế kỷ nay. Dường như không chắc là có hai phần của thân cây Bồ Đề đã bị vua Sansangka chặt vào năm 600-620.
Theo Ashoka Avadana tường thuật thì câu chuyện Tishya Rakshita, hoàng hậu của triều đại vua A-dục chặt cây có khác đi, nhưng kết quả cây bị chặt thì giống nhau.
Cũng theo ông Cunningham cho rằng vì cây Bồ Đề là loại cây phát triển nhanh và có đời sống ngắn, vì vậy hẳn phải có sự kế tục tiếp nối từ các hạt giống nảy mầm, từ thời gian của vua A-dục để xuống cho tới ngày nay, có lẽ trải qua khoảng 12, 15 ngay cả cho đến 20 lần cho sự tiếp nối luân chuyển sống chết … và cây Bồ Đề hiện nay thì có lẽ thuộc đời chít chắt thứ 20 rồi. Thế nhưng, theo cuốn Information at a Glance:[19] “cây Bồ Đề hiện tại có thể là đời thứ 5 của cây gốc mà trước đó bị hủy diệt nhiều lần do thiên tai hoặc do con người tạo ra.
“Trong biên niên sử của người Miến ghi nhận rằng vua Pasenadhi (Prasenajit) đã xây xung quanh cây Bồ Đề một bức tường kép và Dhamma-Ashoka đã xây bức tường thứ ba tại đây.[20] Nếu chúng ta chấp nhận lời tường thuật này thì Cunningham đề nghị rằng bức tường kép của vua Pasenadhi phải bằng gỗ cọc nhọn thì có thể sẽ bị mục nát suốt trong hai thế kỷ rưỡi giữa hai triều đại. Cunningham kết luận rằng có thể nó đã bị dẹp đi khi vua A-dục xây dựng đại tháp liền ngay phía đông của cội Bồ Đề.
Trước mắt chúng ta hôm nay, cây Bồ Đề thật là tươi tốt và đầy lá xanh mởn mơ suốt bốn mùa. Cây mới vừa hơn trăm tuổi. Phía dưới có xây một thành xi măng hình vuông để giữ đất ụ gốc cây và có một tấm vải vàng lớn quấn gần dưới gốc cây để tôn vẻ trang nghiêm cho cây. Rộng ra khoảng hai mét lại có một bức tường vuông nữa bao bọc cây Bồ Đề và tòa Kim Cang. Khách hành hương có thể vào bên trong để chiêm ngưỡng cây Bồ Đề và tòa kim cang này. Cây Bồ Đề được kính thờ và chăm sóc rất cẩn thận. Lúc nào cũng có một vị sư người Ấn ở chùa Phật giáo Ấn Độ (The MahaBodhi Mahavihar) hay Ban Qủan Trị Đại Tháp Bồ Đề (Buddha Gaya Temple Management Committee) túc trực hướng dẫn, sắp xếp khách chiêm bái vào lễ cây, tụng kinh, ngồi thiền…Đặc biệt vào những ngày lễ thì nơi đây rất đông và tấp nập. Những bông hoa tươi nhiều màu tươi đẹp, những ly nước trong vắt, tinh khiết…được kính cẩn sắp đầy trên tòa kim cang và dưới gốc Bồ Đề để cúng dường lên Đấng Thế Tôn, với tâm tha thiết đảnh lễ cây Bồ Đề như sau:
“Chính dưới cội Bồ Đề này Đức Như Lai đã vượt qua tất cả ma vương, để đạt được nhất thiết chủng trí. Hướng về cội Bồ Đề, con xin thành tâm đảnh lễ. Đức Thế tôn – Bậc đạo sư của trời người đã tôn trọng kính thờ cây Bồ Đề này, con cũng xin hướng về cội Bồ Đề vô thượng này, xin thành tâm đảnh lễ!”
Ngày nay, Phật giáo đã đang được khởi sắc sinh động tại Ấn Độ, đặc biệt tại Bồ Đề Đạo Tràng nơi đã trở thành trung tâm chính của Phật giáo thế giới. Trong tình hình phát triển tốt đẹp đó, cây Bồ Đề cũng đang từng bước chuyển mình tỏa ra sức sống thiêng thiêng. Đó phải chăng là một giai đọan, một chặng đường lịch sử khả quan, đáng ghi nhớ về cội Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng nhất là trong thời điểm kỷ nguyên XXI này phải không?
Mua bán Cây Cảnh, Cây Xanh
LIÊN HỆ ĐẶT CÂY: 0909.551105 MR BÌNH
Wait while more posts are being loaded