Post has shared content
TÌNH NHƯ CÂY QUỲNH, CÂY GIAO!

Bấy lâu kề cận với cô mình
Tưởng là đã thấu rõ nội tình
Rành rọt chân tơ chẳng nhầm lẫn,
Kẽ tóc tường tận như bóng hình
Ai hay chỉ tự lừa dối thôi
Quả thật giống như Giao và Quỳnh,
Quỳnh nở canh khuya, người đợi ngắm 
Giao trơ cành thẳng có ai nhìn! ./. ()

(Thơ ĐLTTĐ – LTVB)

()   Hoa Quỳnh thường nở về đêm khuya, vì vậy những người chơi Quỳnh mỗi độ hoa nở phải thức khuya để chờ đợi thời khắc từng cánh hoa từ từ hé nở rất đẹp.

  Hai loài cây này thường được trồng gần nhau, nếu trồng trong bình thì được trồng chung một bình, chúng nương tựa vào nhau để cùng sống, phát triển. Thế nhưng cây Quỳnh khi ra hoa đẹp đẽ và người ta chỉ biết đến hoa Quỳnh, thưởng thức và nhắc đền nó. Còn cây Giao, là cây để Quỳnh tựa, tiếp sức cho Quỳnh phát triển, vươn lên lại không ai nhắc đến. 

Đặc điểm và sự tích:

Cả hai cây này đều thuộc họ xương rồng. Cây quỳnh thì thân cũng là lá, nên không có cành. Cây giao không có lá, chỉ có cành (thực ra lá của nó giống như cành vậy), nên nếu trồng xen với nhau tạo nên một sự bổ sung hoàn hảo, đủ cành đủ lá..."
Đó là một loài hoa tình yêu, thể hiện tình yêu mãnh liệt, mãi mãi bên nhau.
Chuyện kể rằng:
 
"Hồi xưa trên trời có một đôi tiên yêu nhau. Nhưng phép trời thì không cho yêu nhau nên họ trốn xuống trần gian. Ngọc Hoàng sai người đi tìm và bắt được họ. 
 
Để trừng phạt họ, Ngọc Hoàng bắt họ biến thành 2 loại cây. Cô tiên nữ tên Quỳnh nên cây đó đặt tên là cây Quỳnh. Còn anh chàng tiên kia tên Giao. Người trần gian thấy thương cho tình yêu của họ nên khi trồng cây quỳnh thường đặt cạnh cây cành giao. Ý nói dù trong hoàn cảnh nào cũng không chia cắt được họ. Nếu trồng cây quỳnh mà không có cây cành giao thì coi như... thiếu!

Hồi xưa đến giờ, chuyện cha mẹ ép duyên con cái đã làm cho quá nhiều người mang những nỗi đau suốt đời. Và những câu chuyện như thế này là những ước mơ rất chính đáng của con người. Không phản kháng lại cái ý tưởng "cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó", họ bèn đặt ra những câu chuyện như vậy... Rõ ràng dù ông bà mình có quan niệm phong kiến cực đoan thế nào đi nữa, thì những khao khát chính đáng cũng luôn tồn tại trong họ. Vì vậy mới có những chuyện như cây quỳnh cây giao. Rồi sau đó những cụm từ như "thanh mai trúc mã", "tiên đồng ngọc nữ", cây quỳnh cành giao" thường để chỉ những mối tình đẹp. "Một vùng như thể cây quỳnh cành giao"
Photo

Post has shared content
VỊNH CẢNH
Lá non đầu cành đà biếc xanh
Nụ Hồng khoe sắc, xòe từng cánh
Lục Bình tim tím trôi dập dềnh
Cánh sóng ánh màu vàng long lanh
Bến sông mờ mịt khói lam chiều
Phủ chàm dáng núi đẹp tựa tranh
Làng gần le lói ánh lửa đỏ
Sắc tía nền trời chuyển rất nhanh./.
 (Tập danh: Lá – nụ – lục bình – cánh sóng – bến sông – núi – làng – trời. Điểm sắc: Xanh – hồng – tím – vàng – lam – chàm – đỏ – tía)
ĐLTTĐ – TNBC – LCVC.
Photo

Post has attachment
MẤY ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THƠ ĐƯỜNG LUẬT KHI ÁP DỤNG THEO THANH LUẬT MỚI – TÂN THANH ĐIỆU.
 
VẦN (VẬN) – CƠ BẢN NHƯ CHÍNH THỂ THEO BẰNG TRẮC
CÁCH GIEO VẦN:
Có 5 vần gieo ở cuối câu đầu và các câu chẵn, nghĩa là cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8.
Suốt bài thơ chỉ gieo một vần (một từ) gọi là độc vận.
LẠC VẬN VÀ CƯỠNG ÁP:
Làm thơ phải hiệp vận cho đúng. Nếu gieo sai như CÂY đi với HOA là lạc vận (lạc: rụng). Nếu vần gieo gượng thì gọi là cưỡng áp. Hai cách này đều không được cả.
2. ĐỐI - – CƠ BẢN NHƯ CHÍNH THỂ THEO BẰNG TRẮC
Những câu phải đối trong một bài thơ bát cú, trừ hai câu đầu, hai câu cuối, còn bốn câu giữa cứ hai câu đối nhau: 3 với 4; 5 với 6 (sẽ đề cập chi tiết hơn ở phần sau)
3. LUẬT
Là cách sắp đặt tiếng cao và tiếng thấp trong các câu của bài thơ. Luật nhất định buộc người làm thơ phải theo đúng mà đặt. Luật được chia ra LUẬT CAO VÀ LUẬT THẤP
LUẬT THẤP: Câu đầu tiên của bài thơ bắt đầu bằng hai tiếng thấp
a. Luật thấp vần thấp:
Câu 1: T T C C C T T (v)
Câu 2: C C T T C C T (v)
Câu 3: C C T T T C C
Câu 4: T T C C C T T (v)
Câu 5: T T C C T T C
Câu 6: C C T T C C T (v)
Câu 7: C C T T T C C
Câu 8: T T C C C T T (v)
b. Luật thấp vần cao
Câu 1: T T C C T T C (v)
Câu 2: C C T T T C C (v)
Câu 3: C C T T C C T
Câu 4: T T C C T T C (v)
Câu 5: T T C C C T T
Câu 6: C C T T T C C (v)
Câu 7: C C T T C C T
Câu 8: T T C C T T C (v)
LUẬT CAO: Câu đầu tiên của bài thơ bắt đầu bằng hai tiếng hai tiếng cao
a . Luật cao vần thấp:
Câu 1: C C T T C C T (v)
Câu 2: T T C C C T T (v)
Câu 3: T T C C T T C
Câu 4: C C T T C C T (v)
Câu 5: C C T T T C C
Câu 6: T T C C C T T (v)
Câu 7: T T C C T T C
Câu 8: C C T T C C T (v)
b. Luật cao vần cao
Câu 1: C C T T T C C (v)
Câu 2: T T C C T T C (v)
Câu 3: T T C C C T T
Câu 4: C C T T T C C (v)
Câu 5: C C T T C C T
Câu 6: T T C C T T C (v)
Câu 7: T T C C C T T
Câu 8: C C T T T C C (v)
(C: cao, T: thấp, v: vần, ngoài việc tuân theo luật cao – thấp, còn phải tuân theo vần)
4. THẤT LUẬT
Trong một câu thơ, theo "phân minh" chữ nào đáng là thấp mà đặt tiếng cao, hoặc đáng cao mà đặt tiếng thấp, thì gọi là thất luật (sai luật thơ), không được.
5. NIÊM
Niêm nghĩa đen là dính với nhau, là sự liên lạc âm luật của hai câu thơ trong một bài thơ Đường luật. Hai câu thơ niêm với nhau khi nào hai chữ đầu câu cùng theo một luật, hoặc cùng là thấp, hoặc cùng là cao, thành ra thấp niêm với thấp, cao niêm với cao. Trong một bài thơ bát cú, những câu sau đây niêm với nhau.
Ví dụ: Một bài thơ luật thấp vần thấp:
Câu 1 niêm với 8:
T T C C C T T
Câu 2 niêm với 3:
C C T T C C T
C C T T T C C
Câu 4 niêm với 5:
T T C C C T T
T T C C T T C
Câu 6 niêm với 7:
C C T T C C T
C C T T T C C
Câu 8 niêm với 1:
T T C C C T T
6. THẤT NIÊM
Trong một bài thơ, nếu cả hai câu thơ đặt sai luật, như đang bắt đầu thấp thấp đặt làm cao cao hoặc trái lại thế, làm cho tất cả câu thơ trong bài không niêm với nhau thì gọi là thất niêm (mất sự dính liền), không được.
7. BẤT LUẬN VÀ PHÂN MINH
Để cho khỏi gò bó, dễ sử dụng từ ngữ, trong bài thơ, chữ thứ 1, 3, 5 không cần theo đúng luật cao – thấp: Nhất tam ngũ bất luận (tuy nhiên để bài thơ có âm điệu hay thì chữ thứ 5 không nên theo lệ bất luận).
Những chữ thứ 2, 4, 6 buộc phải tuân theo đúng luật cao – thấp: Nhị tứ lục phân minh.
8. KHỔ ĐỘC
Nghĩa là khó đọc, đọc lên trúc trắc không được êm tai. Tuy theo lệ "bất luận" có thể thay đổi mấy chữ trong câu thơ, nhưng đáng cao mà đổi ra thấp thì bao giờ cũng được, chứ đáng thấp mà đổi ra cao thì trong vài trường hợp, sự thay đổi ấy làm cho bài thơ khổ độc.
Những trường hợp ấy là: Chữ thứ 3 các câu chẵn và chữ thứ 5 các câu lẻ đáng là thấp mà đổi ra cao là khổ độc .
9. CÁC BỘ PHẬN TRONG BÀI THƠ
Một bài thơ bát cú giống như bức tranh. Trong cái khung nhất định 8 câu 56 chữ, làm sao vẽ thành một bức tranh hoàn toàn, hình dung được ngoại cảnh của tạo vật hay nội cảnh của tâm giới. Bởi vậy phải sắp đặt các bộ phận cho khéo. Có bốn bộ phận là: Đề, Thực, Luận và Kết.
1- Đề thì có Phá đề (câu 1) là câu mở bài nói lung động cả ý nghĩa trong bài và Thừa đề (câu 2) là câu nối với câu phá mà nói đến đầu bài.
2- Thực, hay Trạng (câu 3-4): là giải thích đầu bài cho rõ ràng. Nếu là thơ tả cảnh thì chọn các cảnh sắc xinh đẹp đặc biệt mà mô tả ra, nếu là thơ tả tình thì đem các tình tự giãi bày ra; nếu là thơ vịnh sử thì lấy công trạng của người mình muốn vịnh mà kể ra.
3- Luận (câu 5-6): là bàn bạc. Nếu là thơ tả cảnh thì nói cảnh ấy xinh đẹp như thế nào; vịnh sử thì hoặc khen hoặc chê, hoặc so sánh người ấy, việc ấy với người khác việc khác.
4- Kết (câu 7-8) là tóm ý nghĩa cả bài mà thắt lại cho mạnh mẽ rắn rỏi, trong đó câu số 7 là câu Thúc ,hay Chuyển và câu 8 là câu Hợp.
**********************
II- PHÉP ĐỐI
Câu đối là các câu văn đi song song với nhau từng cặp.
Trong bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú, bắt buộc phải có đối với nhau giữa các câu 3 và 4, câu 5 và 6.
Muốn câu đối chỉnh và cân, phép đối cần phải hội đủ 3 điều kiện:
- Đối thanh
- Đối ý
- Đối từ loại
1. ĐỐI THANH
-Bảng luật thấp:
T T C C T T C
C C T T C C T
-Bảng luật cao:
C C T T T C C
T T C C C T T
Chí ít là các chữ 2,4,6,7 phải theo đúng luật cao – thấp.
2. ĐỐI Ý
Ý câu trên và ý câu dưới, hoặc chống nhau, hoặc bổ sung ý nghĩa cho nhau.
3. ĐỐI TỪ LOẠI
Danh từ >< Danh từ
Danh từ riêng >< Danh từ riêng.
Danh từ chung >< Danh từ chung
Động từ >< Động từ.
Trạng từ >< Trạng từ.
Tính từ >< Tính từ.
Tính từ có nhiều loại, nên:
Gợi hình >< Gợi hình
Màu sắc >< Màu sắc
Mùi vị >< Mùi vị
Tượng thanh >< Tượng thanh
Số lượng >< Số lượng
Mùa tiết >< Mùa tiết
Phương hướng >< Phương hướng
Từ kép >< Từ kép
Từ đơn >< Từ đơn
Thành ngữ >< Thành ngữ
Biệt ngữ >< Biệt ngữ
Hán Việt >< Hán Việt
Nôm (thuần Việt) >< Nôm (thuần Việt)...
2 cặp đối trong thơ Đường luật là tinh hoa của bài thơ. Nó là đặc điểm chính để nhận biết một bài thơ Đường luật. Hai cặp đối này còn giúp đo lường trình độ làm thơ Đường luật của tác giả.
Một bài thơ thất ngôn bát cú mà không có 2 cặp đối ở Thực và Luận thì không phải là một bài thơ Đường luật.
 
Chú thích hình ảnh:
Hình 1 (H1) – Bảng thanh điệu tiếng Việt phân loại theo âm vực cao – thấp
Hình 2 (H2) – Thanh điệu trong tiếng Việt
Hình 3 (H3) – Tóm tắt toàn bộ thanh điệu tiếng Việt.
PhotoPhotoPhoto
2015-01-23
3 Photos - View album

Post has attachment
THAN THÂN

Tôi nay còn lại tấm thân tàn
Nửa đời chưa qua hết vận hạn
Bệnh tật, ốm đau, chẳng tiền thuốc
Biết bao giờ được sống an nhàn?./.
(Thơ ĐLTTĐ – LCVT)
Photo

Post has shared content

DANH VỚI TÂM!
(Tặng những người thích làm thơ)

Này là thơ tôi viết tặng người
Chữ nghĩa chẳng cần so với đời,
Khen chê làm gì? Chỉ mơn danh!
Nào bằng tâm, ý, sáng rạng ngời./.

Thơ: ĐLTTĐ
Photo

Post has attachment
SỰ HÌNH THÀNH CỦA THỂ THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, thể thơ Đường luật được hình thành từ hai yếu tố chính: Sự phát triển và hoàn thiện của các thể hát, điệu hát trong dân gian; cùng với nó là bối cảnh xã hội của thời đại thể thơ ra đời, lúc bấy giờ đời sống xã hội ở Trung Quốc đang cực kỳ rối ren, quan quyền nhiễu loạn, toàn bọn bất tài, chỉ vơ vét của dân, hãm hại, đày đọa dân, triều đình mọt rỗng, người dân lầm than, cực khổ. 

Hai cội nguồn này của thể thơ Đường luật thể hiện rõ ở chính đặc điểm thi pháp cũng như đặc điểm về nội dung, tư tưởng của thể thơ này. Đó là:

- Đặc điểm về luật thanh điệu, niêm, nhịp, vần. Tất cả đều chú trọng về nhạc lí, tính nhạc. Nhiều người cho rằng, việc tạo ra thể thơ Đường luật còn có mục đích là để dùng nó làm lời cho các thể hát, điệu hát. Vì thế tính nhạc, sự hòa phối thanh sắc, ngữ nghĩa là một yêu cầu được đề cao. Và các quy định của thể thơ cũng dựa nhiều vào âm luật mà đặt ra.

- Đặc điểm về nội dung là phản ánh đời sống xã hội, cụ thể ở đây là sự lầm than, cơ cực của người dân. Nó trở thành nguồn động viên tinh thần, cổ vũ người dân. Đồng thời tố cáo, lên án quan quyền, vương quyền áp bức bóc lột nhân dân. Có thể xem thể thơ này vừa được dùng để bộc lộ, thể hiện tình cảnh, tình cảm, vừa là vũ khí chiến đấu của người dân, giới trí thức.
Photo
Photo
2014-10-31
2 Photos - View album

Post has attachment
SỐNG VUI CHỚ ĐỢI CHỜ

Tội tình chi, tôi đọa đày tôi,
Có mấy ngày được tự do chơi,
Sống vui chẳng đủ xóa nỗi buồn,
Chỉ toàn cay đắng nhận về thôi.
Cuộc đời ngắn lắm, chớ đợi chờ
Khôn ngoan hưởng thụ kiệt thú vui
Nay mai bỏ trời xuống âm phủ
Địa ngục ung dung mà nghỉ ngơi./.
Photo

Post has attachment
HỎI QUAN THỜI NAY

Qua giấc ngủ dài thì mới hay
Chuyện đời bất công nào đổi thay
Chẳng thể buông xuôi như vậy được
Không lẽ một đời chịu đắng cay.
Gắng sức hèn mọn, ta quyết rồi
Hỏi thẳng các quan của thời nay
Quả thật bất chấp hết luật lệ
Bóp dân quằn quại chẳng ghê tay?!./.
Photo

Trải nghiệm sáng tạo với Thơ ĐLTTĐ bạn sẽ thấy một điều rất rõ ràng: việc dùng từ, các thói quen diễn đạt, đặt câu, gieo vần... và hơn thế nữa là logic tư duy của bạn sẽ có những thay đổi nhất định. Thật đấy, rất thú vị. Cái này cũng như truyền thống xem thanh hỏi là âm cao, thanh ngã là âm thấp và hiện đại lại khẳng định điều ngược lại. Chúc các bạn khám phá được những thú vị rất đáng có trong quá trình làm thơ.
Wait while more posts are being loaded