Lược sử Nghề Gốm Việt Nam

I. Lịch sử Gốm Việt Nam.
- Nghề Gốm Việt Nam đã có một lịch sử lâu đời, trên dưới 1 vạn năm cách ngày nay. Bằng chứng là từ thời nguyên thủy, đồ gốm đã được phát hiện khá nhiều qua các di tích khảo cổ từ thời đồ đá đến thời kim khí: Văn hóa Bắc Sơn, Quỳnh Văn, Đa Bút, Hạ Long, Hoa Lộc, Bàu Tró …
   + Văn hóa Bắc Sơn: là tên gọi một nền văn hóa Việt Nam ở sơ kỳ thời đại đồ đá mới có niên đại sau nền văn hóa Hòa Bình, cách ngày nay từ một vạn đến tám ngàn năm. Bắc Sơn là đặt theo tên huyện Bắc Sơn, nơi phát hiện đầu tiên những di vật của nền văn hóa này
Không gian của văn hóa Bắc Sơn là các miền đất thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, ... ngày nay. 
Người nguyên thủy trong nền văn hóa Bắc Sơn trú trong hang động, mái đá gần sông, suối. Họ sống bằng săn bắn, hái lượm. Họ cũng bắt đầu canh tác nông nghiệp ở mức độ rất sơ khai. Đặc biệt, người nguyên thủy thời văn hóa Bắc Sơn đã biết làm đồ gốm. 
    + Văn hóa Quỳnh Văn: Văn hoá khảo cổ mang tên địa điểm Quỳnh Văn ở huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An), do nhà khảo cổ người Pháp Côlani (M. Colani) khai quật lần đầu tiên vào năm 1930 và các nhà khảo cổ Việt Nam xác lập danh pháp.
Đến nay đã phát hiện 21 địa điểm văn hoá Quỳnh Văn, đều là loại hình cồn sò điệp hay loại hình đống rác bếp (Kjokkenmodding). Công cụ làm từ đá trầm tích, ghè đẽo mang dáng vẻ thô sơ, kém định hình. Đồ gốm có số lượng lớn, chủ yếu là nồi đáy nhọn, kích thước lớn, văn in đập
Văn hoá Quỳnh Văn thuộc thời đại đá mới, niên đại cách đây khoảng 5.000 năm, có nguồn gốc từ văn hoá Hoà Bình         
     + Văn hóa Đa Bút: văn hoá khảo cổ được gọi theo tên địa điểm Đa Bút ở Thanh Hoá, Việt Nam, do Patơ (E. Patte) ¬¬khai quật năm 1932 và các nhà khảo cổ định danh.

Đến nay, đã phát hiện được 8 địa điểm Văn hóa Đa Bút, phân bố ở đồng bằng Thanh Hoá và Ninh Bình, niên đại từ trên 6.000 đến 4.000 năm cách ngày nay. Phát triển qua các giai đoạn: Đa Bút, Cồn Cổ Ngựa (lớp trên) và Gò Trũng. Đặc trưng nổi bật là đồ gốm pha nhiều sạn sỏi to, đáy tròn, không chân đế, miệng đứng thẳng hơi loe, thành miệng cao, bụng hình cầu, văn đập hình nan đan.
     + Văn hóa Hạ Long: văn hoá khảo cổ mang tên vịnh biển nổi tiếng ở Quảng Ninh, do các nhà khảo cổ học Việt Nam định danh. Đến nay đã phát hiện được 27 địa điểm
Văn hóa Hạ Long phân bố trên cồn cát, eo đất hoặc hang động hải đảo... ven biển Quảng Ninh và Hải Phòng. Công cụ đá gồm rìu bôn kích thước nhỏ, mài toàn thân; chày, hòn kê, bàn mài có các rãnh cắt ngang hình chữ U. 
Đồ gốm có gốm cứng, mỏng, gốm xốp, trang trí hoa văn đắp thêm, khắc vạch kết hợp trổ lỗ. Bôn có vai có nấc, gốm xốp và bàn mài rãnh là di vật tiêu biểu đặc trưng cho VHHL.
Cư dân VHHL có niên đại 4.000 năm cách ngày nay, thạo nghề biển, đạt tới đỉnh cao kĩ thuật nghề gốm, biết trồng trọt, xe sợi đan lưới, làm dây câu, đóng bè và đi biển.
     + Văn hóa Hoa Lộc: văn hoá khảo cổ sơ kì thời đại đồng, được gọi theo tên xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá, Việt Nam, nơi phát hiện di chỉ đầu tiên và điển hình cho nền văn hoá này (vào cuối 1973). 
Các di chỉ Văn hóa Hoa Lộc phân bố trên các đồi cát cao chạy dài ven biển bắc Thanh Hoá, thuộc địa phận huyện Hậu Lộc và Nga Sơn. Đồ đá phong phú, đa dạng, gồm chủ yếu là công cụ lao động.
Đồ gốm nhiều về số lượng, đa dạng về loại hình. Ngoài các đồ gia dụng như nồi, bình, bát, chậu, vật hình hộp, đồ gốm có chân nhọn... còn có các đồ trang sức như vòng, hạt chuỗi, khuyên tai bằng đất nung, những con dấu in hoa văn đặc trưng cho văn hoá này. Đồ gốm được trang trí văn thừng, khắc vạch, in dấu lưng và miệng sò, ấn vũm, trổ lỗ. Các cách tạo hoa văn này được phối hợp với nhau, tạo nên phong cách rất riêng cho đồ gốm Văn hóa Hoa Lộc. 
Đồ đồng hiếm, mới tìm thấy mảnh vòng, rìu, mảnh đồng. Thời gian tồn tại của Văn hóa Hoa Lộc vào khoảng trên dưới 4.000 năm cách ngày nay.
     + Văn hóa Bàu Tró: văn hoá khảo cổ mang tên địa điểm Bàu Tró ở Đồng Hới (Quảng Bình; Việt Nam), do Patơ (E. Patte) khai quật năm 1923. Đến nay đã phát hiện hơn 20 địa điểm của văn hoá này với các loại hình: cồn sò điệp, cồn cát và cồn đất, phân bố dọc đồng bằng ven biển từ Nghệ An tới Quảng Bình. Công cụ đá có rìu, bôn, cuốc, đục, dao, cưa, mũi khoan, bàn mài, chày, bàn nghiền và hòn ghè; tiêu biểu nhất là rìu, bôn có vai được ghè lại lưỡi. 
Đồ gốm có số lượng lớn, ổn định về chất liệu, loại hình và hoa văn trang trí, trong đó đặc trưng nhất là loại gốm gắn tai, trang trí văn in mai rùa, văn khắc vạch hình khuông nhạc trên nền văn thừng, kết hợp với tô màu đỏ hoặc đen ánh chì. VHBT có niên đại khoảng 4.000 năm cách ngày nay

II. Các bước phát triển của Gốm Việt Nam
1)Từ thế kỷ I đến thế kỷ X: văn hóa Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc song vẫn có một truyền thống văn hóa rất lâu đời. Phát hiện khảo cổ giai đoạn này tập trung ở những ngôi mộ tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa … Trong các ngôi mộ này, người ta phát hiện ngoài gốm đất nung truyền thống còn có cả đồ sành, đồ gốm tráng men. Sản phẩm gốm bao gồm gốm kiến trúc: gạch ngói … gốm gia dụng: chén bát, đĩa, bình, vò, chậu … và cả những mô hình nhà cửa, động vật. Nhiều hiện vật gốm được tìm thấy thời kỳ này vẫn ảnh hưởng đậm nét bởi văn hóa Đông Sơn.
2)Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV: 
- Thế kỷ thứ X với sự ra đời của quốc gia Đại Việt, nước ta bước vào giai đoạn độc lập. Dưới thời Lý – Trần (thế kỷ XI – XIV), nền kinh tế phục hồi và phát triển, nhu cầu về xây dựng gia tăng mạnh cùng với nhu cầu về đồ dùng sinh hoạt, thờ cúng … đã thúc đẩy nghề gốm phát triển mạnh. Sản phẩm gốm Việt Nam thời Lý – Trần không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn là hàng hóa giao thương với các nước Châu Á, Đông Nam Á như Philipin, Malaisia, Indonesia, Nhật Bản …
- Nghệ thuật gốm thời Lý – Trần có những bước phát triển rực rỡ, ngoài gốm hoa nâu có nguồn gốc từ thế kỷ 7 – 8 còn có gốm mem ngọc, men trắng ngà, men trắng. Đồ gốm thời Lý – Trần được chia thành 3 loại chính: gốm kiến trúc, gốm trang trí, gốm gia dụng.
+ Gốm kiến trúc, gốm trang trí: gạch lát nền, gạch ốp tường, ngói, mái, bờ nóc nhà … có khá nhiều hiện vật được tìm thấy trong quá trình khai quật di tích hoàng thành Thăng Long trong thời gian gần đây.
+ Gốm gia dụng: phong phú về kiểu dáng, kích thước. Về loại hình khá đa dạng từ thạp, liễn, thố, tô, chén, đĩa, bình … Trang trí trên gốm gia dụng tinh xảo.
- Nghệ nhân thời Lý – Trần thường sử dụng kỹ thuật khắc chìm, chạm nổi, in màu và tô màu trên sản phẩm đồ gốm.
3) Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII
- Cho đến thời Lê (thế kỷ XV – XVIII) gốm Việt Nam đã bước vào giai đoạn phát triển khá thịnh đạt. Nghề gốm đóng vai trò khá quan trọng trong sự phát triển của ngành thủ công và thương mại trong thời kỳ này. Nhiều trung tâm làm gốm đã được chuyên môn hóa như ở Bát Tràng (Hà Nội), Chu Đậu (Hải Dương), Phù Lãng (Bắc Ninh), Thổ Hà (Bắc Giang)
- Gốm thời Lê là bước phát triển tiếp nối của gốm thời Lý – Trần. Đóng vai trò quan trọng và tiêu biểu cho dòng gốm thời ký này là gốm lam – dòng gốm xuất hiện từ giữa thế kỷ XIV. Loại hình gốm lam cũng đa dạng, ngoài sản phẩm dùng cho nhu cầu tín ngưỡng, thờ cúng, gốm gia dụng cũng rất phổ biến.
- Gốm thời Lê có một thời gian dài phát triển thịnh đạt từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII. Sản phẩm gốm Việt Nam có mặt khắp các thị trường Đông Nam Á, Châu Ấ và nhiều nơi trên thế giới.
- Cuối thế kỷ XVIII gốm Việt Nam bước vào thời kỳ suy thoái, sản xuất đồ gốm ở các làng nghề giảm sút do chiến tranh và kinh tế đình đốn.. Dưới triều Nguyễn nghề gốm không được lưu tâm nhiều.
4)Từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX:
- Ở Nam Bộ vào cuối thế kỷ XVIII, ở khu vực Sài Gòn - Gia Định đã hình thành Xóm Lò gốm do những người Hoa di dân vào đây mở lò làm nghề.
- Địa bàn xóm Lò Gốm xưa khá rộng, gồm các làng Hòa Lục (quận 8), Phú Định-Phú Lâm (quận 6), Phú Giáo-Gò Cây Mai (quận 11) trải dài đôi bờ kênh Ruột Ngựa, kênh-rạch Lò Gốm. Đây là nơi cung cấp khá nhiều vật dụng dùng trong kiến trúc, trong đời sống sinh hoạt hàng ngày. Riêng sản phẩm gốm trang trí sử dụng trong kiến trúc, thờ cúng, tín ngưỡng với màu men xanh đồng, men nhiều màu là một dòng gốm khá đặc biệt gắn liền với địa danh Gò Cây Mai.
- Đến đầu thế kỷ XX, gốm ở khu vực Sài Gòn xưa bước vào giai đoạn khó khăn, địa bàn sản xuất thu hẹp do bị đô thị hóa. Một số lò gốm đã chuyển hướng ra các vùng phụ cận. Bên cạnh trung tâm gốm Biên Hòa, thì còn ra đời 1 trung tâm gốm tại Lái Thiêu (Bình Dương). Trung tâm gốm mỹ thuật Biên Hòa tập trung sản xuất những sản phẩm ứng dụng và trang trí. Trong khi đó, gốm Lái Thiêu đi sâu vào việc sản xuất gốm gia dụng: bình, lọ, chậu, đôn, hũ, chóe, lu ….đã dần dần chiếm lĩnh thị trường Nam bộ và nhiều địa phương khác những thập niên đầu thế kỷ XX
- Nghệ thuật gốm Nam bộ từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX là 1 quá trình phát triển song song của 2 khuynh hướng truyền thống và cách tân, sự phát triển đó đã đặt nền móng vững chắc cho việc hình thành những dòng gốm riêng biệt, góp phần làm phong phú cho diện mạo mỹ thuật gốm Việt Nam.

TQH 2010
Wait while more posts are being loaded