Post has attachment

Post has attachment
Mình mới được biếu ít mật ong rùng. nhưng nhà mình không có nhu cầu dùng hết, mình xin nhượng lại cho bạn nào có nhu cầu dùng MẬT ONG RỪNG hoặc để biếu. mình xin đảm bảo 100% chất lượng tốt + Mật xịn. 
ĐT của mình: 0942.222.597 
mình tên Minh 
bạn nào ở Hà Nội mình xin mang tận nhà cho bạn thử. Thank!

Thạch hộc - cây cảnh đẹp cây thuốc hay

Thạch hộc, Hoàng thảo cẳng gà. Phi điệp kép, Kim thoa thạch hộc- Dendrobium nobile Lindl., thuộc họ Lan - Orchidaceae.

Mô tả: Cây biểu sinh trên cây gỗ hay vách đá, cao 30-60cm, đường kính 1,3cm, thường mọc thành khóm. Thân hơi dẹt, có rãnh dọc, khi khô có màu vàng rơm. Lá mọc so le hai bên thân, dài 6-12cm, rộng 1-3cm, không lông, dễ rụng. Hoa to xếp thành bó 1-4 cái ở sát nách lá, hoa dài 4-4,5cm, rộng 3-3,5cm, màu nền là hồng tía ở đầu chót của cánh hoa nhưng chuyển sang trắng vào phía trung tâm; ở hông của cánh môi có một chấm to màu hạt dẻ. Quả nang hơi hình thoi, khi khô tự mở theo các rãnh dọc. Hạt nhiều.

Cây ra hoa tháng 3-4, có quả tháng 5-6.  



Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Dentrobii Nobilis, thường gọi là Thạch hộc - Kim thoa thạch hộc.

Nơi sống và thu hái: Loài của Ấn Độ, Nêpan, Bhutan, Nam Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào. Cây mọc hoang bám trên thân cây gỗ trong các rừng ẩm và cũng được trồng tương đối phổ biến, chủ yếu làm cây cảnh. Thu hái toàn cây vào mùa đông, phơi hoặc sấy khô. Khi dùng, tẩm rượu đồ chín, thái nhỏ.

Thành phần hóa học: Cây chứa chất nhầy, alcaloid dendrobin, nobilonin và G-hydroxydendrobin.

Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, nhạt, tính bình; có tác dụng tư âm bổ thận, trừ phiền chỉ khát, ích vị sinh tân, thanh nhiệt. Cũng có sách ghi là Thạch hộc trừ hư nhiệt, bổ khí, ích tinh, cường âm, tráng dương, mạnh dạ dày, bổ hư hao, cứng gân cốt. Người ta cũng biết được là dendrobin có tác dụng gây mê và giảm sốt, có tác dụng tăng lượng glucose trong máu, với liều cao làm yếu hoạt động của tim, làm giảm huyết áp, gây khó thở.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa miệng khô táo khát, phổi kết hạch, đau dạ dày ợ chua, không muốn ăn, di tinh, sau khi khỏi bệnh bị hư nhược, đổ mồ hôi trộm, lưng gối đau mỏi, nhiệt bệnh thương tổn đến tân dịch. Liều dùng 8-10g, dạng thuốc sắc.

Thạch hộc thường dùng trong các bệnh như ho khan, khô cổ, háo người, dùng cho các bệnh nhân nam giới sinh hoạt không điều độ bị đau lưng mỏi gối, bệnh nhân bị thiểu năng sinh dục. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác: chữa ho thì phối hợp với Mạch môn, vỏ Quýt khô; chữa đau lưng mỏi gối, gia thêm Câu kỷ, Ngưu tất.

Đơn thuốc:

1. Bài chữa chống hư hao, người gầy mòn: Thạch hộc 6g, Mạch môn đông 4g. Ngũ vị tử 4g, Ðẳng sâm 5g, Cam thảo chích 4g, Kỷ tử 4g, Ngưu tất 4g, Ðỗ trọng 4g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia làm 3 lần uống trong ngày.

2. Trẻ em khó thở: Cả cây giã nhỏ lẫn mật ong cho uống.

Theo Internet

Tu lình - Cây thuốc chữa nhiều bệnh

Có lẽ chưa có một cây thuốc nào mang đến 10 loại tên như cây cây Tu lình. Cây Tu lình còn có tên là cây Con khỉ, cây Hoàn ngọc, cây Nhật Nguyệt, cây Mặt trăng Mặt trời, cây Trạc Mã, cây Thận tượng linh, cây Mật quỷ, gần đây có tên là cây Lan Điền…
Tu lình vốn là cây mọc hoang trong rừng Cao Lạng, thân có bấc, mọc nhanh, một năm có thể mọc cao 30cm. Lá mềm, không xơ, hình lá thon dài, không cân đối, đuôi lá thường vẹo, mặt phải xanh sẫm hơi ráp, mặt trái xanh nhạt; lá mọc đối xứng tạo thành mắt, lá vàng dễ rụng.
 
Về mùa xuân, cây ra hoa thành từng chùm ở cuối cành, cuống hoa ngắn, ống hoa dài, tán hoa có 4 cánh nhỏ màu trắng tím nhạt, không thấy quả. Thân cây già màu xám nâu, rễ mọc chùm không có rễ cái.
 
Đặc tính:

Lá già vị đắng ngọt như có bột; lá non nhớt, không có mùi vị; vỏ và rễ có mùi vị như lá già. Dùng lá cây tươi chưa phát hiện có độc tố gì, có tác dụng kích thích thần kinh. Dùng nhiều có cảm giác như say nhẹ một thời gian ngắn. Ăn chín không gây phản ứng.
 
Công dụng:
 
Chữa các bệnh về đường tiêu hoá: Đi lỏng lỵ, rối loạn tiêu hoá, táo bón, đau bụng không rõ nguyên nhân.
Ăn từ 7 – 9 lá, khoảng 2 – 3 lần/ngày cho đến khi khỏi, có thể nấu canh nhạt để ăn.
Bệnh kèm theo chảy máu: Chảy máu dạ dày, đường ruột, đái ra máu, phân ra máu kể cả đái buốt và đái rắt…
Ăn lá khi đói hoặc sắc nước lá đặc để uống, có thể nấu canh độ 1 bát nhỏ. Ăn 1 – 5 lần máu sẽ cầm, nên ăn ngày 2 lần.
Các bệnh ung thư thời kỳ phát bệnh
Ăn lá xong cơn đau giảm dần, người tỉnh táo, ăn ngủ tốt, có cảm giác như khỏi bệnh. Qua một số bệnh ung thư dạ dày, gan, phổi… đều thấy có diễn biến tốt. Lượng lá dùng thường xuyên theo mức độ đau; thông thường ngày 2 lần mỗi lần 3 – 7 lá, tuỳ theo hiệu quả giảm đau.
 
Chữa các bệnh u ở phổi, tiền liệt tuyến
 
Liều lượng dùng như trên, sau 1 tuần các triệu chứng giảm hẳn, bệnh nhân ăn ngủ tốt. Riêng u xơ tiền liệt tuyến ăn vào cuối tháng, khoảng 3 tháng liên tục.
Các bệnh về gan: Xơ gan cổ trướng, viêm gan…
 
Ăn lá tươi như trên ngày 2 lần khi đói. Bột lá khô cùng với bột Tam thất theo tỷ lệ 1/1 là thuốc trị xơ gan cổ trướng đặc hiệu
Bệnh về thận: Viêm thận cấp hoặc mãn, suy thận, các hiện tượng đái đục, đái ra máu.
Điều trị như trên sau 1 tuần. Ăn 1 lần/ngày, nước giải chỉ trong được nửa ngày thì cần tăng lên 2 lần/ngày. Trong thời gian 1/2 tháng các triệu chứng bệnh giảm rõ rệt.
Chữa viêm loét: Loét dạ dày, hoành tá tràng, đại tràng, trĩ nội ngoại, trực tràng…
Ăn lá tươi khi đói (tốt nhất vào buổi sáng). Với các vết thương thuộc phạm vi dạ dày, chỉ cần ăn trong 1 tuần, tránh uống rượu mạnh. Khi chữa vết loét thuộc phần ruột, liều lượng cần nhiều hơn tuỳ theo nặng nhẹ.
 
Điều chỉnh huyết áp, ổn định thần kinh
 
Khi biến đổi huyết áp (cao hay thấp) theo liều lượng trên, ăn xong chợp mắt nghỉ trong thời gian ngắn, huyết áp sẽ trở lại bình thường; khi lên cơn rối loạn thần kinh thực vật, tuỳ theo mức độ để định liều lượng, có thể ăn vào buổi sáng giúp cơ thể ổn định trong ngày và đề phòng khi thời tiết thay đổi đột ngột.
 
Chữa về chấn thương:
 
Các loại chấn thương, đặc biệt chấn thương sọ não, va đập, gãy dập xương hay bắp thịt.
Lá thuốc có tác dụng cầm máu, khôi phục các mô cơ bị dập, chống viêm nhiễm, lá làm cả thuốc đắp và thuốc uống. Khi vết thương kín có thể nhai để đắp, vết thương hở nên giã để đắp.
 
Chữa cảm cúm
 
Nếu kéo theo rối loạn tiêu hoá, đau đầu, mệt mỏi nhiệt độ cao. Nên ăn lá cách 2 giờ, cơn sốt nhanh chóng hạ đồng thời rối loạn tiêu hoá cũng khỏi. Sau cơn sốt nên ăn cháo có lá thuốc trộn vào làm cho người bệnh mau chóng trở lại bình thường.
 
Khôi phục sức khoẻ:
 
Khi mệt mỏi toàn thân hoặc cần nâng cao sức chịu đựng cường độ cao, nên ăn như liều định 5 – 7 lá trước nửa giờ. Trẻ con đi lỏng nên lấy từ 1 – 2 lá giã lấy nước cho uống.
Trong thực tế có những bệnh phải dùng liều ở độ ngưỡng (gây phản ứng nhẹ) mới có tác dụng chữa bệnh tốt như bệnh viêm thần kinh co thắt.
Số lần dùng trong ngày có tác động đến làm chuyển biến bệnh tật. Những bệnh đau cấp cần duy trì một nồng độ cao hơn trong một thời gian nhất định để chế ngự bệnh tật. Thông thường nên ăn lá vào buổi sáng hoặc khi đói. Sau khi ăn lá nên chợp mắt 15 phút. Đây là giai đoạn thần kinh tự điều chỉnh, sau đấy trạng thái cơ thể trở nên sảng khoái, bệnh tật chuyển biến nhanh, nếu không có giai đoạn nghỉ ngơi này, kết quả sẽ kém hẳn.

Theo internet

Tôm càng - Món ăn ngon, vị thuốc quý
Tôm càng còn gọi là tôm đồng, tôm nước ngọt, tên khoa học là Macrobrachium nipponense De Haan. Tôm càng được các bà nội trợ rất ưa chuộng bởi có giá trị dinh dưỡng cao, thịt tôm chắc, dai, ngọt. Tôm càng được chế biến thành nhiều món ăn rất phong phú và đa dạng như: tôm nướng, tôm rang me, lẩu tôm, tôm tẩm bột rán, chạo tôm… Tôm đồng còn là vị thuốc quý trong Đông y.
Tôm đồng được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là hà ngư hay hà mễ. Chủ yếu dùng tươi, có thể phơi khô, tán bột làm thuốc. Thịt tôm đồng tươi chứa protid, lipid, Ca, P, Fe, vitamin B1, B2, PP, cholesterol, melatonin và acid béo omega - 3. Vỏ tôm có các polysaccharide. Tôm đồng vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng bổ dương khí, lợi sữa, giải độc, chống nôn.
Tôm đồng tươi được dùng phổ biến dưới dạng món ăn - vị thuốc rất phong phú như sau:
 

Bồi dưỡng cho trẻ cứng cáp, chóng biết đi, chống suy dinh dưỡng:
tôm đồng tươi bỏ đầu, rửa sạch, rang nhỏ lửa cho khô giòn, giã nhỏ, rây bột mịn. Dùng bột tôm quấy với bột gạo cho trẻ ăn hằng ngày, mỗi lần 1 - 2 thìa cà phê. Có thể giã hay xay nhuyễn thịt tôm tươi nấu cháo cho trẻ ăn.
Chữa chứng cận thị, trẻ em đái dầm: rang tôm với dầu vừng ăn hằng ngày.
Làm thuốc bổ: tôm đồng 12 con bóc vỏ, băm nhỏ, cùi dừa 15g nạo sợi, lòng đỏ trứng 3 quả. Tất cả trộn đều, đổ dầu lạc vào chảo rán mỏng thành bánh, ăn trong ngày.
Phụ nữ sau đẻ thiếu sữa:
- Tôm đồng tươi (nửa bát) bóc bỏ vỏ, giã nát, tẩm rượu nếp và muối, hấp chín, ăn trong ngày.
- Tôm đồng tươi (100g) xào với 20ml rượu trắng ăn hằng ngày hoặc rang tôm rồi đảo với rượu ăn trong ngày.
Chữa báng bụng: tôm tươi nấu canh ăn hằng ngày dần dần sẽ khỏi đau.
Kích thích sinh dục, chữa liệt dương, mộng tinh:
- Tôm đồng 20g, ngài tằm đực 7 con (sao giòn), giã nát rồi trộn với trứng gà 2 quả rán hoặc hấp chín ăn.
- Tôm đồng tươi 100g xào với lá hẹ 25g hoặc quả ớt ngọt 50g thêm chút rượu 40 độ.
- Trứng tôm 20g nấu canh với trứng chim sẻ (2 - 3 quả), ăn trong ngày.
Giảm đau lưng: tôm đồng tươi 100g (lột vỏ, rút chỉ lưng) ngâm vào rượu nếp trong 10 - 15 phút, vớt ra, xào chín ăn hằng ngày.
Ngoài ra, từ các polysaccharid trong vỏ tôm đồng chiết được chất chitosan để pha chế thuốc chữa bỏng, có khả năng kích thích các tế bào biểu mô làm cho vết thương mau lành. Chitosan còn có tác dụng tạo nên tác động kích thích miễn dịch và chống khối u, cải thiện tiến trình thay đổi tế bào và gia tăng các tế bào của vỏ xương.   
  Lương y Thái Hòe

Tục đoạn: dùng rễ của cây tục đoạn, tên khoa học là Dipsacus japonicus, Mig, họ tục đoạn Dipsacaceae. Là loại cây thảo, cao chừng 1,5 - 2m, rễ củ không phân nhánh, thân đứng có khía dọc, có gai thưa. Vị thuốc còn có tên tiếp cốt thảo. Cây có ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc, nhất là ở Sa Pa (Lào Cai). Tục đoạn có vị đắng, tính hơi hàn, quy hai kinh can, thận. Tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, thông điều huyết mạch, chỉ thống, trị phong thấp, chấn thương, xương khớp sưng đau, an thai, chỉ huyết. Dùng tốt trong các trường hợp động thai, đau bụng, ra huyết. Liều dùng 6 -12g
 
Tên khác:
Sâm nam.
Tên khoa học:
Radix Dipsaci
Nguồn gốc:
Vị thuốc là rễ phơi hay sấy khô của cây Tục đoạn (Dipsacus japonicus Miq.) và một số loài thuộc chi Dipsacus, họ Tục đoạn (Dipsacaceae).
Cây mọc ở vùng núi cao miền Bắc nước ta và được trồng ở một số địa phương.
Thành phần hoá học chính:
Alcaloid, saponin, hydratcarbon…
Công dụng:
Chữa đau lưng, mỏi gối, di tinh, bạch đới, gãy xương, đứt gân do chấn thương, phong thấp gây đau nhức, động thai đau bụng.
Cách dùng, liều lượng:
Ngày dùng 4-12g, dạng thuốc sắc, hoàn tán, rượu thuốc.

  
Cá chạch và vị thuốc ngư


Người xưa gọi cá chạch là “nhân sâm” dưới nước bởi bên cạnh giá trị dinh dưỡng nó còn có nhiều tác dụng chữa bệnh. Thịt cá chạch có lượng mỡ khá thấp nhưng lượng đạm lại rất phong phú, cao hơn nhiều so với các loại thịt và cá khác. Trong 100g cá chạch có 16g đạm; 3,2g đường; 2g chất béo; các vitamin A, B1, B2, P và 17 axít amin dễ hấp thụ. Theo y học cổ truyền, cá chạch có vị ngọt, tính bình không độc, bổ khí huyết, cường dương, chống lão suy, trị ra mồ hôi trộm, tiêu khát, trĩ, tiểu tiện không thông, giải say rượu, chữa viêm gan mật, vàng da, tụy, bệnh ngoài da, mẩn ngứa; là thức ăn quý của người cao tuổi. Bài viết này xin giới thiệu một số món ăn - bài thuốc từ các chạch bổ khí huyết.
 
 Cá chạch giàu dinh dưỡng là vị thuốc chữa nhiều bệnh.
- Cháo cá chạch dùng cho người cao tuổi, chống lão suy: cá chạch tươi 300-500g, gạo tẻ 300g. Cá chạch làm sạch, gạo vo để ráo. Cho gạo vào nồi, nước vừa đủ, nấu cháo, khi cháo sắp được thì cho cá chạch đã ướp và xào vào cháo, nấu tiếp một lúc nữa là được. Khi ăn cho gia vị và tiêu bột.
-Canh cá chạch tráng dương: 5 - 6 con cá chạch tươi sống loại vừa, làm sạch nhớt, bỏ ruột, đem rán mềm xương, rán mỡ hoặc dầu để khử tanh, thêm 300ml rượu trắng hoặc 600ml nước, vài lát gừng, đun nhỏ lửa đến lúc nước canh có màu trắng sữa là được. Bỏ lớp dầu trắng sữa, phần nước và thịt còn lại, cho thêm một chút muối. Ăn cái và nước canh. Dùng cho người kém ăn, xanh xao, thiếu máu, nghiện rượu, bệnh gan, suy nhược thần kinh và thể lực.
- Chữa suy nhược thiếu máu: cá chạch 250g. thịt lợn nạc 50g, gừng 5g, tiêu bột 5g, nước vừa đủ. Cá chạch rán qua, cho nước, thịt, gừng, đun to lửa 10 phút rồi hầm nhừ thịt đến khi nước còn một nửa, nêm gia vị là được. Ăn trong ngày.
- Canh cá chạch chữa tiểu đường: làm sạch cá chạch, bỏ hết nhớt, xương, ruột. Nấu canh cá chạch với lá sen non (lượng tùy ý). Ăn trong ngày.
Hoặc cá chạch 10 con làm sạch nhớt, bỏ xương, ruột, lá sen khô vừa đủ. Cá chạch phơi chỗ mát cho khô, bỏ đầu, đuôi đốt thành than. Lá sen khô tán bột. Trộn 2 thứ với nhau. Mỗi lần dùng 10g. Ngày uống 3 lần với nước sôi để nguội.
Cá chạch với tỏi chữa phù thũng: làm sạch cá chạch bỏ hết nhớt, xương, ruột, làm sạch nấu với rượu cho chín rồi ăn.
Lương y Minh Chánh

Cây vọng cách thanh can, lợi sữa
Cây vọng cách còn có tên cách núi, cây cách (Premna  corymbosa  Rottl. Ex Willd., họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae), là cây vừa làm cảnh, vừa làm rau gia vị, vừa làm thuốc. Vì dáng cây, đặc biệt là dáng cành của vọng cách rất đẹp, dễ tạo dáng uốn lượn, lá vọng cách hầu như xanh quanh năm, màu sắc và dáng của ngù hoa đã tạo ra một loại cây cảnh sáng giá, được nhiều người ưa chuộng. Vọng cách thuộc loại cây gỗ nhỏ, chỉ cao khoảng 2 - 7m. Cành non vuông, đôi khi có gai hoặc lông mịn. Cành già nhẵn, màu hơi nâu, có rãnh, có lỗ bì. Lá mọc đối, hình trái xoan, dài 14 -16cm, rộng 10 - 12cm, đáy tròn hay hơi hình tim, mặt trên lá nhẵn bóng, mặt dưới có lông mịn trên các gân, mép lá nguyên hoặc hơi khía răng ở phía đầu lá. Khi vò, lá có mùi hăng hắc đặc biệt. Cụm hoa mọc ở đầu cành thành ngù dài 12 - 20cm, có lông mịn, hoa nhỏ màu trắng hay lục nhạt. Tràng có lông ở mặt ngoài, ống hình trụ. Quả hạch hình cầu hay hình trứng, khi chín có màu đen. Ở nước ta, vọng cách có ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ, Trung du và  Tây Nguyên…; hiện được trồng nhiều ở Nam Định, Hải Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình… Vọng cách có tới 15 loài, trong đó có 4 - 5 loài được dùng làm thuốc, thu hái lá quanh năm, tốt nhất là vào vụ xuân - hè, phơi khô, bảo quản để dùng dần.
 
 Lá cây vọng cách là vị thuốc giúp thanh can sáng mắt
Về thành phần hóa học: lá và hoa vọng cách có tinh dầu, mùi thơm hăng hắc. Trong toàn cây, kể cả lá, thân và rễ vọng cách đều chứa hợp chất iridoid (premcoryosid), flavonoid, polysaccharid, đường khử… Ở vỏ thân còn có alcaloid: premnin, garianin và một isoxasol alcaloid là premnazol. Lá, thân và rễ vọng cách đều chứa nhiều Se, Mg, Fe, Mn, K… có lợi cho sức khỏe.
Theo y học cổ truyền, vọng cách có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh can sáng mắt, tiêu độc, bổ can, tỳ, thông kinh, hoạt lạc, tán kết ứ, giảm sốt, lợi sữa, lợi tiểu, lợi tiêu hóa. Sau đây là một số cách dùng vọng cách làm thuốc:
- Dùng lá bánh tẻ làm gia vị, ăn cùng với nem, chạo,… để tạo cảm giác vừa đắng nhẹ vừa thơm ngon, lại có tác dụng đề phòng đau bụng, sôi bụng, tiêu chảy.
- Đau bụng lỵ, đau quặn bụng, nhất là khi đại tiện: lấy 40g lá tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt, uống ngày 2 lần, trước bữa ăn khoảng 1 giờ. Uống hằng ngày đến khi các triệu chứng thuyên giảm. Cũng có thể lấy lá khô (20-30g), 20g cỏ sữa, sắc uống hằng ngày. Trẻ em, tùy tuổi giảm lượng, có thể pha thêm chút đường cho dễ uống.
- Viêm gan vàng da: lá vọng cách 40g, nhân trần 50g, diệp hạ châu 20g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang, uống vài tuần lễ, tới khi các triệu chứng thuyên giảm.
- Phụ nữ sau sinh, da bị vàng, kém ăn: lá vọng cách, nhân trần, lá cối xay mỗi vị 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Tắc tia sữa: lá vọng cách hoặc phối hợp với lá bồ công anh mỗi thứ 30 - 40g, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt cho uống. Bã đắp ngoài, ngày 1 lần. Làm nhiều ngày tới khi các triệu chứng thuyên giảm.
- Sau đẻ ít sữa hoặc các trường hợp tiểu tiện khó khăn: lá vọng cách 30g, sắc uống hoặc phối hợp với thông thảo 12g, sắc uống ngày 1 thang, tới khi các triệu chứng thuyên giảm.
GS.TS. Phạm Xuân Sinh

Tắc kè: Ích khí, trợ dương
Tắc kè tên thuốc là cáp giới. Từ lâu, y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian đã công nhận tắc kè có giá trị cao về mặt bổ dưỡng: ích khí, trợ dương, lợi huyết, tăng cường sinh lực. Dạng phơi khô được dùng chữa yếu sinh lý, liệt dương, đái rắt, đái són, đau xương, đau mình.
 

Cách chế biến: Lật ngửa tắc kè, ghìm chặt 4 chân, rạch một đường từ cổ đến gốc đuôi, bỏ ruột, lau sạch máu và nhớt (không rửa nước). Dùng 2 que to, một que xuyên ngang căng 2 chân trước, que kia xuyên ngang 2 chân sau, rồi lấy 2 que mềm hơn đặt chéo trong bụng để căng cho phẳng và cuối cùng lấy một que dài và cứng xuyên dọc từ đầu đến quá chót đuôi. Dùng giấy bản quấn chặt đuôi vào que để khỏi bị đứt hoặc gãy rơi mất (vì đuôi tắc kè là bộ phận quý nhất). Đem phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ 50-60oC.
Dược liệu có hình dẹt, phẳng, đầu, đuôi, chân đều căng phẳng. Mắt lõm xuống, miệng có răng rất nhỏ. Lưng màu đen xám, điểm những chấm nâu sáng, trắng hoặc vàng nhạt. Toàn thân có những vảy rất nhỏ, nhẵn bóng. Thứ con to, béo mập, thịt trắng, đuôi còn nguyên vẹn là loại tốt. Ngoài thị trường, người ta thường buộc tắc kè khô thành từng đôi để bán (1 con to, 1 con nhỏ) tượng trưng cho 1 con đực và 1 con cái.
Khi dùng, lấy 3-4 con tắc kè đã chế biến nhúng vào nước sôi, cạo sạch vảy ở lưng, chặt bỏ 4 bàn chân và đầu từ 2 mắt đến miệng. Cắt thành miếng nhỏ, tẩm nước gừng, sao vàng rồi ngâm vào 1 lít rượu 40o, thêm ít trần bì cho thơm, để 10-15 ngày, càng lâu càng tốt. Thỉnh thoảng lắc đều, rồi lọc kỹ thành rượu tắc kè, ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 1 cốc nhỏ. Thêm đường cho dễ uống. Dùng riêng hoặc phối hợp với một số vị thuốc như: tắc kè 50g, ba kích 100g, hà thủ ô đỏ 100g, hoàng tinh hoặc thục địa 100g, đại hồi 10g. Tắc kè ngâm với đại hồi trong rượu 35o để được 300ml. Các dược liệu khác cũng ngâm với rượu 35o trong 10-15 ngày, được 700ml. Hòa lẫn 2 rượu với nhau, thêm 100g đường kính (đã nấu thành sirô) để thành 1 lít. Lọc kỹ. Ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 15-20ml sau bữa ăn hay trước khi đi ngủ. Người yếu sinh lý uống rất tốt.
DSCKII. Bảo Hoa

17 chứng bệnh có thể trị bằng rau cần
Rau cần là loại rau thông dụng và có thể sử dụng làm thuốc. Theo Đông y học: Rau cần có vị  ngọt, cay; tính mát; vào các kinh Phế và Vị.  Có tác dụng thanh nhiệt, bình can, khư phong, lợi thấp, tỉnh não kiện thần, nhuận phế chỉ khái v.v... Có thể sử dụng để chữa cao áp huyết, mạch máu xơ cứng, thần kinh suy nhược, kinh nguyệt không đều v.v... Một số ứng dụng cụ thể:
 

1- Chữa viêm phế quản: Dùng gốc rau cần - liền cả rễ 100g, vỏ quít 9g, kẹo mạch nha (di đường)  30g. Cách dùng: Trước hết cho kẹo mạch nha vào nồi đun sôi, tiếp đó cho gốc rau cần và vỏ quít vào sao cháy, đổ  thêm nước vào sắc lấy nước uống  trong ngày (Thực vật dược dụng chỉ nam).

2- Chữa suyễn thở do viêm khí quản mạn tính: Rễ rau cần 15g, kinh giới tuệ (hoa kinh giới) 6g, hoa tiêu 10 hạt, phục linh 9g, đường phèn 12g. Cách dùng: Rễ rau cần,  hoa tiêu và  phục linh sắc trước, đun sôi trong 10 phút, cho thêm kinh giới tuệ vào đun sôi thêm trong 5 phút, chắt lấy nước, hòa 6g đường phèn vào uống. Nước thứ hai đun sôi trong 10 phút, chắt nước pha nốt 6g đường phèn vào uống. Liệu trình 10 ngày (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).

3- Chữa ho gà (bách nhật khái): Dùng toàn cây rau cần 500g, rửa sạch, vắt lấy nước cốt, thêm vài hạt muối vào, hấp cách thủy, chia 2 phần uống vào sáng sớm và buổi tối; liên tục trong nhiều ngày (Thực vật dược dụng chỉ nam).

4- Chữa ho do lao phổi: Rễ rau cần 30, rửa sạch, thái nhỏ, trộn với mật hoặc đường đỏ, xào chín, ăn, ngày 2-3 lần (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).

5 - Chữa cao huyết áp, tinh thần hưng phấn, đầu trướng đau, mặt đỏ bừng: Rau cần tươi 250 g, rửa sạch, chần nước sôi khoảng 2 phút, thái nhỏ, giã nát vắt lấy nước, mỗi lần uống 1 chén con, ngày 2 lần. Có tác dụng làm hạ huyết áp và giải trừ trạng thái căng thẳng, khó chịu. Nếu không có rau cần tươi, có thể dùng 30-60g rau cần khô (có thể thêm 12g khổ qua - mướp đắng) sắc uống. Cách chế rau cần khô: Rau cầu tươi chần qua nước sôi, phơi trong bóng mát cho khô, cất đi dùng dần (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).

6- Chữa phản vị ẩu thổ - ăn vào nôn ngược trở ra: Rễ rau cần tươi 30g, cam thảo 15g, thêm nước vào đun sôi khoảng 10 phút, chắt lấy nước, đập 1 qủa trứng gà vào, ăn trứng và uống nước (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).

7- Chữa viêm gan mạn tính: Rau cần tươi 200g, rửa sạch, giã, vắt lấy nước cốt, thêm 50g mật ong vào trộn đều, uống ngày 2 lần; liên tục trong nhiều ngày (Thực vật dược dụng chỉ nam).

8- Chữa đái tháo đường: Rau cần tươi 60 g, gạo tẻ 70 ~ 100 g.  Cách dùng: Rau cần rửa sạch, thái nhỏ, cùng gạo cho vào nồi, đổ khoảng 600 ml nước nấu thành cháo; ngày ăn 2 lần vào buổi sáng và buổi tối. Ăn khi cháo còn nóng, không nên để lâu. Cháo này công dụng bổ thận, thanh nhiệt, lợi tiểu, bình can nhưng tác dụng chậm - phải dùng lâu mới kiến hiệu (Thực dưỡng bổ ích bí dược lương phương).

9- Chữa đi tiểu ra máu (niệu huyết): Dùng rau cần tươi giã vắt lấy nước cốt uống, ngày 3 lần,  mỗi lần một chén con (Thánh huệ phương).

10- Chữa  tiểu tiện nhỏ giọt, đau nhức: Rau cần tươi bỏ lá, giã vắt lấy nước cốt, hoà với đun sôi để nguội uống (Thánh huệ phương). Hoặc dùng: Rau cần tươi 50-100g, sắc nước uống nhiều lần trong ngày, tiểu tiện sẽ thông suốt (Hồ Nam dược vật chí).

11- Chữa mất ngủ: Gốc rau cần liền cả rễ 90g, toan táo nhân 9g (sao cháy đen), sắc nước uống trong ngày (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).

12- Chữa nhức đầu: Gốc rau cần liền cả rễ một nắm to, rửa sạch, giã nát, sào với trứng gà ăn ngày 2 lần (Thực vật dược dụng chỉ nam).

13- Chữa phong thấp, khớp xương chân tay viêm tấy, đau nhức: Dùng rau cầu tươi giã vắt lấy nước, thêm đường trắng vào đun sôi lên, uống thay trà trong ngày (Thực vật dược dụng chỉ nam).

14- Chữa phụ nữ kinh nguyệt trước kỳ: Dùng rau cần khô 100g, sắc nước uống thay trà trong ngày, uống thường xuyên sẽ kiến hiệu (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).

15- Chữa sản hậu xuất huyết: Rễ rau cần 60g, trứng gà 2 qủa, cùng luộc chín, ăn trứng gà và uống nước luộc (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).

16- Chữa sản hậu đau bụng: Rau khô 60g, sắc  lấy nước, thêm chút đường đỏ hoặc rượu trắng vào uống lúc đói bụng (Thực vật dược dụng chỉ nam).

17- Chữa quai bị: Rau cần tươi giã nát, trộn với dầu vừng hoặc dầu lạc đắp vào chỗ có bệnh (Hồ Nam dược vật chí).

Caythuocquy.info.vn
Wait while more posts are being loaded