Profile cover photo
Profile photo
PHUOC & PARTNERS ATTORNEYS AT LAW
About
Posts

Post is pinned.Post has attachment
Ngày 10/10/2016 vừa qua, Ông Lương Văn Lý – Luật sư thành viên của P&P được Kênh truyền hình FBNC (Finance Business News Corporation) mời phỏng vấn về chủ đề "Quản lý kinh doanh hóa chất: Chỉ vận động tiểu thương thôi là chưa đủ" phát sóng trên kênh FBNC ngày 10/10/2016.

Xoay quanh chủ đề nói trên, Ông Lý đã chia sẻ nhiều thông tin liên quan đến những quy định của Luật hóa chất năm 2007, các Nghị định 108/2008, 26/2011 và các văn bản hướng dẫn thực hiện khác. Ông Lý cho rằng trước hết pháp luật hiện hành về quản lý việc knh doanh hóa chất cần được nghiêm chỉnh thực hiện; bên cạnh đó, chính quyền cần có những chính sách và giải pháp hỗ trợ kịp thời, minh bạch và hợp lý đối với những người đủ điều kiện luật định để kinh doanh hóa chất.

Với vốn kinh nghiệm thực tiễn phong phú và kiến thức chuyên môn vững chắc, bài phóng sự là một ý kiến thiết thực đóng góp vào cuộc thảo luận hiện nay về việc di dời địa điểm chợ hóa chất Kim Biên.

https://www.youtube.com/watch?v=4BZboSUzGmA
Photo
Add a comment...

Post has attachment
Phuoc & Partners giới thiệu đến quý độc giả trên Facebook một bài viết mới của Trợ lý Nguyễn Thị Hằng với tiêu đề: "Cuộc chiến taxi: Góc nhìn về điều kiện kinh doanh".

(TBKTSG Online) - Mấy ngày gần đây, việc các xe taxi của Vinasun dán khẩu hiệu “Đề nghị dừng thí điểm Uber, Grab vì quá nhiều bất công về điều kiện kinh doanh”, “Yêu cầu Uber, Grab phải tuân thủ pháp luật Việt Nam”… đang trở thành tâm bão dư luận. Nhiều ý kiến được đưa ra dưới góc nhìn của Luật Cạnh tranh, theo cách nhìn khá khắt khe đối với Vinasun.
Tuy vậy, vấn đề pháp lý cốt lõi trong vụ tranh chấp này ít được nói đến đó là vấn đề về điều kiện kinh doanh nói chung và điều kiện vận tải hành khách bằng xe taxi nói riêng. Điều kiện kinh doanh “bất công” như nêu trong khẩu hiệu trên là nguyên nhân cụ thể mà Vinasun bức xúc. Vậy các điều kiện kinh doanh mà Vinasun (và taxi truyền thống) và taxi công nghệ phải đáp ứng có gì khác nhau?

Điều kiện kinh doanh của taxi

Hiện nay, theo Luật Giao thông đường bộ, Nghị định 86 về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô cũng như Thông tư 63 về quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô, các hãng taxi truyền thống phải đáp ứng rất nhiều điều kiện kinh doanh. Tổng quan, các điều kiện kinh doanh này được gom lại thành nhóm các điều kiện chung về kinh doanh vận tải bằng xe ô tô và các điều kiện riêng đối với loại hình taxi. Theo đó, điều kiện chung bao gồm có đăng ký kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, xe phải đảm bảo số lượng, chất lượng phù hợp với hình thức kinh doanh, lái xe không phải là người đang bị cấm hành nghề, xe ô tô phải được đỗ nơi phù hợp đảm bảo về an toàn giao thông, đảm bảo các quy định về tổ chức, quản lý.

Còn điều kiện riêng (1), bao gồm: (i) xe taxi phải có sức chứa từ 9 chỗ ngồi trở xuống (kể cả người lái xe); (ii) xe taxi có niên hạn sử dụng không quá 8 năm tại đô thị loại đặc biệt; không quá 12 năm tại các địa phương khác; (iii) trên xe phải gắn đồng hồ tính tiền được cơ quan có thẩm quyền về đo lường kiểm định và kẹp chì; (iv) hãng taxi phải đăng ký và thực hiện sơn biểu trưng (logo) không trùng với biểu trưng đã đăng ký của đơn vị kinh doanh vận tải taxi trước đó và số điện thoại giao dịch cho các xe thuộc đơn vị; (v) hãng taxi phải có trung tâm điều hành, duy trì hoạt động của trung tâm điều hành với lái xe, đăng ký tần số liên lạc và có thiết bị liên lạc giữa trung tâm với các xe thuộc đơn vị; (vi) Từ ngày 1-1-2016, hãng taxi phải có số xe tối thiểu là 10 xe; riêng đối với đô thị loại đặc biệt phải có số xe tối thiểu là 50 xe; (vii) điều kiện về điểm đón, trả khách, điểm đỗ xe taxi.
Như vậy, có thể thấy để hoạt động, các điều kiện kinh doanh mà taxi truyền thống phải đáp ứng là rất nhiều và chi tiết.

Grab, Uber phải đáp ứng điều kiện kinh doanh nào?

Ngày 7-1-2016, Bộ Giao thông và Vận tải đã ban hành Quyết định 24 thí điểm hoạt động của taxi công nghệ. Theo văn bản này, Grab, Uber là các công ty cung cấp phần mềm kết nối đặt xe, sẽ hợp tác với các hãng xe có giấy phép vận tải hành khách theo hợp đồng để vận chuyển hành khách bằng xe ô tô dưới 9 chỗ trên địa bàn thí điểm. Để sử dụng dịch vụ này, hành khách đăng nhập vào ứng dụng Grab, Uber đã tải vào điện thoại di động và chọn địa điểm muốn đến. Ứng dụng sẽ báo lại phí vận chuyển tương ứng và nếu khách hàng đồng ý thì nhấn nút chọn. Sau đó, taxi Grab, Uber sẽ tới điểm đón khách hàng.

Quyết định 24 coi taxi Grab và Uber là hình thức kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng. Đây là hình thức kinh doanh vận tải không theo tuyến cố định và được thực hiện theo hợp đồng vận tải bằng văn bản giữa hãng xe và khách hàng (2). Hình thức này theo luật là hoàn toàn khác với loại hình vận tải taxi - hình thức có hành trình và lịch trình theo yêu cầu của hành khách; cước tính theo đồng hồ tính tiền căn cứ vào ki lô mét xe lăn bánh, thời gian chờ đợi (3).

Theo đó, điều kiện kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng cũng bao gồm các điều kiện chung của kinh doanh vận tải bằng ô tô và có thêm các điều kiện riêng sau: (i) đối với lái xe: khi thực hiện vận tải hành khách theo hợp đồng, lái xe phải mang theo bản chính hoặc bản sao hợp đồng vận tải và danh sách hành khách có xác nhận của đơn vị vận tải; (ii) đối với phương tiện: xe ô tô dưới 9 chỗ ngồi có lắp đặt thiết bị giám sát hành trình, được cấp phù hiệu xe hợp đồng, niên hạn không quá 8 năm; (iii) ngoại trừ các trường hợp đặc biệt theo luật định, xe ô tô vận chuyển hành khách không được đón, trả khách ngoài các địa điểm ghi trong hợp đồng; (iv) từ ngày 1-1-2017, xe taxi Grab, Uber vận chuyển trên 300 km thì hãng xe tại thành phố trực thuộc Trung ương là 10 xe trở lên, còn ở các địa phương còn lại là 5 xe trở lên và tại huyện nghèo thì 3 xe trở lên (4).

Rõ là, các điều kiện kinh doanh đối với kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng tương đối đơn giản hơn so với kinh doanh vận tải bằng taxi, dù Quyết định 24 vẫn yêu cầu lái xe của Grab và Uber phải thuộc các hãng xe vận tải có giấy phép kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng.

Vì phân chia nên mới rắc rối

Rõ ràng về mặt bản chất kinh doanh, taxi truyền thống và Uber, Grab đều là taxi. Tuy nhiên, luật lại chia ra thành dịch vụ taxi và xe chạy hợp đồng để từ đó áp đặt các điều kiện kinh doanh khác nhau, tạo ra sự bất công trong kinh doanh.

Theo phân tích ở trên, điều kiện kinh doanh của Grab, Uber dường như “dễ thở” hơn rất nhiều so với taxi truyền thống khác. Chính vì vậy, trường hợp quy định xe chạy Grab, Uber là hình thức vận tải hành khách theo hợp đồng liệu có phù hợp và có công bằng với các hãng taxi truyền thống?

Ngoài ra, Grab và Uber có lợi thế khác so với taxi truyền thống, đó chính là khả năng “thay áo nhanh chóng”. Câu hỏi là suy cho cùng, Grab và Uber có kinh doanh taxi không cũng vẫn còn tranh luận. Nhiều người sẽ trả lời ngay là: “Uber, Grab không kinh doanh taxi” mà Uber và Grab kinh doanh dịch vụ môi giới – tức là kết nối người mua (khách đi taxi) và người bán (lái xe taxi). Và vì Uber và Grab không kinh doanh taxi nên Grab và Uber không phải tuân thủ các điều kiện kinh doanh về taxi.

Tuy nhiên, kết luận “Uber, Grab không phải là taxi”, ở góc độ người tiêu dùng, là không ổn – như một kiểu chơi chữ. Khách hàng gọi Uber hoặc Grab khi họ cần đi taxi. Khách hàng cũng không xài phần mềm của Grab và Uber để tác nghiệp hoặc tạo ra sản phẩm trực tiếp nào từ phần mềm đó như kiểu dùng Microsoft Word để tạo văn bản, dùng Zalo để chat, mà họ dùng phầm mềm của Uber hoặc Grab để gọi taxi. Họ cũng không quan tâm đến việc đặt tên cho dịch vụ của Grab và Uber là dịch vụ kết nối hay dịch vụ taxi, và cũng không quan tâm đến những thỏa thuận nội bộ giữa Grab và Uber và các lái xe taxi. Với họ, Grab và Uber là taxi. Dưới góc độ cạnh tranh, Grab và Uber cạnh tranh trực tiếp với các hãng taxi, nói cách khác, Grab và Uber đã và đang tham gia vào thị trường taxi.

Chính khả năng khoác lên mình “2 cái áo” cùng một lúc của Grab và Uber khiến mọi chuyện trở nên rắc rối. Cơ quan nhà nước không biết xếp Grab và Uber vào đâu – doanh nghiệp taxi hay công ty môi giới thương mại. Grab và Uber có buộc phải phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh taxi theo luật không? Ai mới là người kinh doanh taxi thực sự trong mô hình kinh doanh này – lái xe hay Grab và Uber? Ai chịu trách nhiệm với khách hàng đi taxi – lái xe hay Grab và Uber? Nếu Grab và Uber bảo rằng họ không kinh doanh dich vụ taxi, thì có vẻ như, người phải chịu trách nhiệm trước khách hàng chính là lái xe hoặc những hãng xe vận tải – đã ký hợp đồng sử dụng những lái xe này và hợp tác với Uber, Grab. Vấn đề đặt ra là ở chỗ, người tiêu dùng những tưởng lái xe là của Uber, Grab nhưng khi “có sự cố” họ phải “truy tìm” pháp nhân chủ quản của lái xe - những pháp nhân mà họ không hề có ý niệm nào trước đó để yêu cầu bồi thường. Còn Grab, Uber hoàn toàn có quyền từ chối với lý do viện dẫn Grab, Uber chỉ là đơn vị kinh doanh phần mềm công nghệ, không liên quan gì đến việc vận tải, họ không có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về tài xế và phương tiện.

Giải pháp gốc rễ cho vấn đề

Cuộc chiến giữa taxi truyền thống và taxi công nghệ hé lộ nhiều vấn đề pháp lý thú vị.
Trước hết, việc phân chia dịch vụ vận chuyển thành dịch vụ taxi và xe chạy theo hợp đồng là vô lý. Về bản chất pháp lý, khách hàng leo lên taxi, thỏa thuận giá cả và đường đi xong thì một hợp đồng vận chuyển đã được giao kết – thế nên xe chạy theo hợp đồng cũng là taxi và taxi cũng là xe chạy theo hợp đồng. Việc định nghĩa dịch vụ taxi là “hình thức có hành trình và lịch trình theo yêu cầu của hành khách, cước tính theo đồng hồ tính tiền căn cứ vào ki lô mét xe lăn bánh, thời gian chờ đợi” không nêu ra được bản chất của hoạt động taxi mà chỉ là sự liệt kê về bề ngoài của phương thức tính tiền giữa lái xe taxi và khách hàng.

Tiếp theo, Uber và Grab đã chứng minh một điều là các quy định hiện nay về kinh doanh dich vụ vận tải (taxi hoặc xe chạy hợp đồng) không phải là điều kiện buộc phải có để có thể cung cấp dịch vụ taxi. Để kinh doanh taxi như Uber và Grab, chỉ cần một phần mềm, một xe ô tô và một lái xe - đó là những điều kiện tối giản cho việc kinh doanh taxi. Nói khác đi, các điều kiện kinh doanh taxi trong thời gian vừa qua đã tạo ra nhiều gánh nặng cho các hãng taxi và làm méo mó thị trường taxi. Uber và Grab đã giúp phá vỡ các ràng buộc đó và tạo ra cơ hội cho cơ quan nhà nước nhìn nhận lại các điều kiện kinh doanh này.

Về mặt lịch sử, có thể thấy rằng rất nhiều điều kiện kinh doanh được ban hành từ rất lâu, khi mà các cơ quan nhà nước tự cho mình quyền ban hành bất cứ điều kiện kinh doanh nào mà không sợ phản ứng từ doanh nghiệp hoặc công chúng. Doanh nghiệp phải làm quen với các điều kiện này, và từ từ các điều kiện này được đẩy lên các văn bản cao hơn như thông tư, nghị định hoặc luật mà cũng không ai thắc mắc xem các điều kiện kinh doanh này có sự thực vì lợi ích chung hay không. Mãi đến khi Luật Đầu tư 2014 ra đời, luật mới buộc cơ quan nhà nước khi ban hành điều kiên kinh doanh thì phải có lý do như lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Dù vậy, rất nhiều điều kiện kinh doanh mới vẫn được ban hành khi không có các lý do như nêu trên.

Nhìn rộng hơn, thông qua các điều kiện kinh doanh, Nhà nước đã can thiệp quá sâu vào thị trường, làm méo mó thị trường. Môi trường kinh doanh hiện nay còn quá nhiều các điều kiện kinh doanh dưới nhiều dạng như phê chuẩn, thông báo, điều kiện kỹ thuật, giấy phép con, giấy phép cháu chắt… Để duy trì sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, cân bằng quyền lợi giữa taxi truyền thống và taxi công nghệ, việc cần làm là phải loại bỏ việc phân biệt taxi và xe hợp đồng, loại bỏ tối đa những điều kiện kinh doanh áp dụng cho hoạt động taxi nói riêng và dịch vụ vận tải nói chung. Khi đó, taxi truyền thống và taxi công nghệ sẽ cạnh tranh sòng phẳng trong một môi trường tự do. Nhà nước sẽ không cấm đoán taxi công nghệ hoặc quản lý taxi truyền thống vì chính thị trường và khách hàng sẽ quyết định xem ai sẽ là người chiến thắng trong cuộc cạnh tranh đó.
-------------
(1) Điều 17, Nghị định 86 và Điều 40, Thông Tư 63.
(2) Điều 7.1, Nghị định 86.
(3) Điều 6.1, Nghị định 86.
(4) Mục III Quyết định 24, Điều 7, 18 Nghị định 86.
Photo
Photo
16/10/2017
2 Photos - View album
Add a comment...

Post has attachment
Phuoc & Partners xin giới thiệu:

[HCM] 16/11/2017 | Hội thảo “Hợp đồng lao động”

Ngày 16/11/2017 tại Hồ Chí Minh và 17/11/2017 tại Hà Nội sắp tới đây, Câu lạc bộ nhân sự Việt Nam (VNHR) tiếp tục tổ chức một buổi hội thảo với chủ đề: “Hợp đồng lao động” nằm trong chuỗi hội thảo tháng 11, với sự tham gia của các Luật sư của Phuoc & Partners – cô Nguyễn Vân Quỳnh và cô Dương Tiếng Thu trong vai trò là Diễn giả chính.

Luật sư Nguyễn Vân Quỳnh và Luật sư Dương Tiếng Thu sẽ trình bày tầm quan trọng của “hợp đồng lao động” và những quy định pháp luật về loại hợp đồng lao động, nội dung hợp đồng lao động, ký kết, thực hiện hợp đồng lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động, những rủi ro pháp lý nếu chấm dứt hợp đồng lao động trái luật. Theo đó, các đối tượng tham gia sẽ được cập nhật đầy đủ và nắm bắt kịp thời những quy định pháp luật có liên quan để xem xét áp dụng trong doanh nghiệp mình cho phù hợp.

Đến với buổi hội thảo lần này, các quý khách đăng ký tham gia vừa có thể chia sẽ những tình huống “khó nhằn”, những thắc mắc bấy lâu, vừa có thể lắng nghe ý kiến trao đổi của các đồng nghiệp dưới sự dẫn dắt và giải đáp nhiệt tình, đầy kinh nghiệm từ Luật sư Quỳnh và Luật sư Thu.

Thông tin về sự kiện:

Thời gian: 8:30-12:00, Thứ Năm ngày 16/11/2017
Địa điểm: Metropole, 216 Lý Chính Thắng, Quận 3, Tp. HCM

Thuyết trình bởi: Luật sư Nguyễn Vân Quỳnh

– Thành viên tổ Tư vấn pháp lý VNHR
– Luật sư cấp cao Công ty Luật TNHH Phước & Các Cộng sự

Giá vé: 200,000VNĐ/ Hội viên VNHR và 400,000VNĐ/ khách
Đăng ký: Anh/Chị vui lòng nhấp vào nút đăng ký bên dưới hoặc gửi email về địa chỉ event@vnhr.vn (Ms Hải Yến)
SĐT hỗ trợ: 028 3820 3625
Add a comment...

Post has attachment
Phuoc & Partners xin chúc mừng Ngày truyền thống luật sư Việt Nam, ngày 10 - 10 - 2017.

Chúc Quý anh chị em luật sư thật nhiều sức khỏe, đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong sự nghiệp và sẽ luôn là nguồn truyền cảm hứng quý báu cho các bạn trẻ, những người đang định hướng theo đuổi đam mê trở thành những luật sư tài giỏi trong tương lai.
Photo
Photo
11/10/2017
2 Photos - View album
Add a comment...

Post has attachment
Chuyên đề : Bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ pháp chế doanh nghiệp và pháp luật

Nhằm giúp cho các doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh có điều kiện tiếp cận nhanh chóng, kịp thời những quy định mới của pháp luật, Cục Công tác phía Nam – Bộ tư pháp đã tổ chức một lớp bồi dưỡng với chuyên đề : "Bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ pháp chế doanh nghiệp và pháp luật về các chính sách, chế độ mới của Luật An toàn vệ sinh lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành"’, được tổ chức vào ngày 22/9/2017.

Chương trình còn có sự góp mặt của Luật sư Dương Tiếng Thu và Luật sư Ngô Thị Diễm – luật sư của Phuoc & Partners, đảm nhiệm vai trò diễn giả chính và trình bày những nội dung quan trọng về các văn bản, chính sách mới ban hành về pháp luật lao động liên quan đến doanh nghiệp và những vấn đề cần lưu ý. Luật sư Dương Tiếng Thu và Luật sư Ngô Thị Diễm cũng chia sẽ các kỹ năng, nghiệp vụ cần thiết cho cán bộ pháp chế doanh nghiệp trong lĩnh vực pháp luật lao động, việc làm và giải đáp các tình huống vướng mắc thực tiễn và đề ra hướng giải quyết kịp thời.

Đây là một hoạt động thường niên rất hữu ích và đóng vai trò quan trọng trong quá trình duy trì và phát triển của doanh nghiệp và tổ chức hướng đến các đối tượng như : lãnh đạo, người quản lý doanh nghiệp, Trưởng các phòng, ban và cán bộ pháp chế các doanh nghiệp, cán bộ hành chính nhân sự doanh nghiệp, đại diện công đoàn người lao động tại khu vực phía nam.
Photo
Photo
27/09/2017
2 Photos - View album
Add a comment...

Post has attachment
Ngày 14/9/2017 vừa qua, Hội nghị nhân sự Việt Nam 2017 với chủ đề “Định hình tương lai – Shaping Our Future” do CLB Nhân sự Việt Nam (VNHR) tổ chức đồng hành cùng các nhà tài trợ uy tín và các tổ chức lớn tại Việt Nam đã diễn ra tại Trung tâm hội nghị White Palace quy tụ hơn 700 chuyên gia nhân sự và lãnh đạo doanh nghiệp đến tham dự.

Chương trình hội nghị quy mô lần này phác họa thành công một bức tranh tổng quát về các xu hướng phát triển tương lai của nền thị trường, công nghệ và các chuyển động trong khu vực. Bên cạnh đó, chương trình còn tập trung khai thác một cách chuyên nghiệp và linh hoạt các chuyên đề chuyên sâu về nghệ thuật lãnh đạo, phát triển tổ chức đầy bổ ích cho các khách mời có cơ hội lựa chọn tham gia và thảo luận về chủ đề phù hợp với cá nhân và tổ chức của họ.

Với bề dày kinh nghiệm và nền tảng kiến thức pháp lý vững chắc trong quản trị nhân sự và lãnh đạo tổ chức hành nghề luật sư, Ông Nguyễn Hữu Phước – Luật sư sáng lập Phuoc & Partners, là một trong những diễn giả chính cho phần Toạ đàm với chuyên đề: “Nguồn Nhân sự cho Doanh nghiệp khởi nghiệp. Đơn giản hay phức tạp?”.

#vnhrsummit2017 #shapingourfuture #luatsunguyenhuuphuoc #nguonnhansuchodoanhnghiepkhoinghiep
PhotoPhotoPhotoPhoto
22/09/2017
4 Photos - View album
Add a comment...

Post has attachment
Đây là quan điểm của Luật sư Lê Quang Vy – Công ty Luật Phước & Partners xung quanh thông tin Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) thu phí tác quyền âm nhạc qua tivi trong các khách sạn.

Hiệp hội khách sạn Đà Nẵng đang bức xúc khi VCPMC tiếp tục thu phí tác quyền âm nhạc qua tivi sau khi dừng hơn 3 tháng, với tư cách là một luật sư cũng là một nhạc sĩ, quan điểm của anh về vấn đề này như thế nào?

Luật sư Lê Quang Vy: Qua thông tin báo chí, tôi được biết căn cứ pháp lý mà VCPMC yêu cầu các khách sạn trả phí là Điểm b và điểm đ Khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT), tức quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng và quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác.

Tôi cho rằng chúng ta cần phải xác định rõ các khách sạn có phải là đối tượng biểu diễn tác phẩm hay đối tượng truyền đạt như được quy định tại Điểm b và đ nói trên hay không?

(1) Khách sạn không thể là đối tượng biểu diễn mà đối tượng biểu diễn chỉ là những nghệ sĩ biểu diễn trực tiếp trên sân khấu ca nhạc hoặc biểu diễn gián tiếp bởi các bản ghi âm, ghi hình

(2) Khách sạn cũng không phải là đối tượng truyền đạt vô tuyến mà đối tượng truyền đạt vô tuyến phải là các tổ chức phát sóng.

Trong trường hợp này các khách sạn chỉ là đối tượng mua đường truyền cơ sở hạ tầng phát sóng (không đồng nghĩa với chương trình phát sóng). Và hiện nay không có một điều khoản luật nào trong Luật SHTT buộc các đơn vị sử dụng cơ sở hạ tầng phát sóng phải có nghĩa vụ thanh toán bản quyền.

Nếu VCPMC thu phí các ti vi trong khách sạn thì chẳng khác nào sắp tới đây sẽ đến lượt các hãng taxi, vì thực tế các taxi đều có trang bị máy radio.

Tuy nhiên, nếu các khách sạn mua các sản phẩm bản ghi âm, ghi hình, các chương trình phát sóng để phát trong khách sạn của mình (dù là phát ở sảnh, ở phòng ngủ, hay trong w.c), thì khách sạn phải có nghĩa vụ trả phí bản quyền không những cho các nhạc sĩ, mà khách sạn còn phải có nghĩa vụ trả phí bản quyền liên quan cho các nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, các tổ chức chủ sở hữu chương trình phát sóng và các nghệ sĩ biểu diễn (Điều 33 Luật SHTT).

Trong khi các khách sạn cho rằng VCPMC cần xác định khách sạn có sử dụng âm nhạc qua tivi hay không thì mới được thu tiền thì nhạc sĩ Phó Đức Phương, Giám đốc VCPMC lại khẳng định: “Dù khách hàng có nghe hay không, khách sạn vẫn phải trả chúng tôi tiền. Họ có thể thắc mắc mức phí đắt hay rẻ. Chúng tôi hoàn toàn có thể nghiên cứu, điều chỉnh. Nếu họ dứt khoát không nộp tiền là phạm luật”. Điều này có đúng không thưa luật sư?

Luật sư Lê Quang Vy: Không có một điều luật nào lại quy định một cách bất công là buộc người không sử dụng phải trả tiền. VCPMC chỉ có quyền thu khi chứng minh được các khách sạn có sử dụng âm nhạc của các nhạc sĩ đã ủy quyền cho VCPMC theo đúng quy định pháp luật.
Với cách thu phí đồng giá 25.000 đồng mỗi ti vi một năm cho tất cả các khách sạn ba sao, bốn sao, theo luật sư có phù hợp?
Luật sư Lê Quang Vy: Khi chưa có quy định cụ thể của Chính phủ về việc này thì mức phí phải được thực hiện theo nguyên tắc sự thỏa thuận giữa các bên.

Cục Bản quyền từng khẳng định việc thu tiền sử dụng tác phẩm là đúng Luật Sở hữu Trí tuệ nhưng cần có lộ trình, việc VCPMC chưa hoàn thiện lộ trình chi tiết đã áp dụng thu phí trở lại có xác đáng hay không thưa luật sư?

Luật sư Lê Quang Vy: Như trên đã phân tích việc đúng luật hay không phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể.

Add a comment...

Post has attachment
Bài viết của Luật sư Lê Quang Vy và Trợ lý pháp luật Nguyễn Thị Hằng có tiêu đề: "Cần không giấy phép đi thi người đẹp quốc tế?", được đăng trên Thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 27/4/2017, số 29-2017 (1.388).

*

Mấy năm trở lại đây, thực trạng nhiều người đẹp, người mẫu tham gia các cuộc thi tại nước ngoài bị Cục Nghệ thuật biểu diễn xử phạt vì không xin giấy phép không còn là chuyện hiếm. Có thể nhắc đến trường hợp từng làm nóng dư luận khi Oanh Yến đăng quang Hoa hậu Thế Giới toàn cầu tổ chức tại Philipines đã bị Cục Nghệ thuật biểu diễn phạt 30 triệu đồng vì tự ý đi thi cách đây gần hai năm. Gần đây nhất là người đẹp Nguyễn Thị Thành đạt giải Á hậu 3 tại cuộc thi Miss Eco International 2017 bị phạt 22,5 triệu vì “thi chui”.

Liệu đi thi người đẹp, người mẫu quốc tế có cần phải xin giấy phép dự thi tại cơ quan chức năng?

ĐIỀU KIỆN MỚI ĐƯỢC CẤP PHÉP ĐI THI

Theo quy định tại Nghị định 79/2012/NĐ-CP (ngày 05 tháng 10 năm 2012) về quy định biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu (“Nghị định 79”) và Nghị định 15 (năm 2016) sửa đổi và bổ sung một số điều của Nghị định 79, những thi sinh Việt Nam chỉ được phép dự thi người đẹp, người mẫu quốc tế khi đáp ứng đủ hai điều kiện: (1) Đã đạt danh hiệu chính tại cuộc thi người đẹp, người mẫu trong nước; (ii) Được một tổ chức Việt Nam có đăng ký kinh doanh dịch vụ văn hóa, nghệ thuật hoặc quyết định thành lập có chức năng hoạt động văn hóa, nghệ thuật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm đại diện thực hiện thủ tục đề nghị cấp giấy phép dự thi người đẹp, người mẫu quốc tế và đưa đi dự thi. Theo đó, tổ chức đưa người đẹp dự thi sẽ nộp bộ hồ sơ xin cấp Giấy phép dự thi tại Cục Nghệ thuật biểu diễn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cục Nghệ thuật biểu diễn cấp Giấy phép. Trường hợp không cấp Giấy phép thì Cục Nghệ thuật biểu diễn phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Vậy có thể hiểu hiện nay một công dân Việt Nam bình thường sẽ không được tự mình tham gia một cuộc thi người đẹp, người mẫu quốc tế nếu không đủ các điều kiên trên và không được cấp giấy phép. Trường hợp tự ý tham gia sẽ bị xử phạt tiền từ 15 đến 30 triệu đồng (Nghị định 158/2013/NĐ-CP, 12-11-2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo).

Những quy định trên cho thấy Nhà nước có sự sàng lọc rất kỹ để cử đi những thí sinh ưu tú nhất. Với ý nghĩa đó, các quy định của Nghị định 79 hướng tới mục đích quản lý chặt chẽ đối tượng dự thi các cuộc thi sắc đẹp, người mẫu. Tuy nhiên, các quy định này hiện nay lại không phát huy được hiệu quả quản lý của Nhà nước mà ngược lại còn phát sinh nhiều vấn đề bất ổn đáng chú ý.

ĐỦ TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VẪN LÀ CHƯA ĐỦ

Các quy định nêu trên dẫn đến một nghịch lý đó là trường hợp các công dân Việt Nam đủ tiêu chuẩn do ban tổ chức cuộc thi quốc tế đề ra nhưng lại không đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định pháp luật Việt Nam, từ đó dẫn đến việc không được tham gia các cuộc thi quốc tế dù đã đạt tiêu chuẩn. Hiện nay, ngoài những cuộc thi yêu cầu thí sinh phải đạt danh hiệu chính trong một cuộc thi cấp quốc gia tại nước của mình để lấy quyền đại diện quốc gia tham dự cuộc thi như Hoa hậu Thế giới [1] hay Hoa hậu Hoàn vũ[2], cũng có những cuộc thi không đưa ra các điều kiện trên, các người đẹp chỉ cần đáp ứng những tiêu chí của ban tổ chức cuộc thi đó đề ra. Lúc này họ tham gia cuộc thi với tư cách cá nhân họ chứ không phải đại diện quốc gia, ví dụ như trường hợp của Mai Ngô khi tham gia cuộc thi Asia Next top model, Nguyễn Thị Thành tham gia cuộc thi Miss Eco International hoặc nhiều trường hợp khác, các thí sinh bất chấp việc bị cơ quan thẩm quyền Việt Nam xử phạt, vẫn tham gia các cuộc thi tại nước ngoài. Có thể thấy, việc quy định mọi trường hợp thí sinh phải đạt danh hiệu chính trong nước, phải thông qua một tổ chức có chức năng hoạt động văn hóa nghệ thuật để xin giấy phép dự thi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được dự thi tại nước ngoài dường như không còn phù hợp với nhu cầu giao lưu văn hóa giữa các quốc gia với nhau trong một thế giới phẳng ngày nay. Thêm vào đó, Nhà nước cũng không thể quản lý hết thi sinh tham gia vô vàn các cuộc thi sắc đẹp, người mẫu diễn ra trên thế giới, vì vậy cơ chế quản lý thông qua giấy phép không đạt được hiệu quả như mong muốn.

VẤN ĐỀ QUYỀN CỦA CÔNG DÂN

Nội dung các quy định tại Nghị định 79 liệu có mẫu thuẫn? Cụ thể tại điều 3 nghị định này quy định: khuyến khích các tổ chức, cá nhân Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia thi người đẹp, người mẫu, nhưng mặt khác tại điều 22 của nghị định lại đặt ra các điều kiện và thủ tục cấp giấy phép dự thi, vô hình chung điều này lại trở thành rào cản khiến công dân bị hạn chế quyền tham gia các cuộc thi quốc tế của mình. Ngoài ra, các thi sinh tham dự cuộc thi quốc tế nếu không có giấy phép dự thi của Cục Nghệ thuật Biểu diễn thì thành tích họ đạt được không được công nhận tại Việt Nam, phải khẳng định dù chúng ta có không công nhận đi chăng nữa thì bản thân danh hiệu đạt được đã gắn với cá nhân của người dự thi và đây là quyền nhân thân được Bộ luật Dân sự bảo hộ. Chúng ta ca ngợi và không phủ nhận các thí sinh có gốc Việt Nam hoặc người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài tham gia các cuộc thi người đẹp Việt Nam tại nước ngoài nhưng chúng ta lại không công nhận thành tích của thí sinh Việt Nam tại nước ngoài nếu không có giấy phép dự thi. Điều này quả thật không công bằng đối với các thí sinh ở trong nước .

Có quan điểm cho rằng nếu không cấp giấy phép dự thi sẽ dẫn đến tình trạng không sàng lọc thí sinh, từ đó có thể làm mất hình ảnh của Việt Nam trên thế giới. Trước hết, xét ở khía cạnh quyền công dân, quyền con người, việc tham dự một cuộc thi sắc đẹp của công dân là quyền tự do của cá nhân miễn là sự tự do này không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước. Do đó, không thể áp cơ chế “xin, cho” vào quyền mà công dân đương nhiên được hưởng. Thứ hai, ở đây chúng ta đã vì một “nỗi lo sợ mất hình ảnh” mơ hồ, chưa xác định có xảy ra hay không mà chúng ta đã đóng cửa, hạn chế quyền của công dân, hạn chế cơ hội quảng bá văn hóa, hình ảnh của đất nước con người Việt Nam đến với thế giới. Chúng ta không thể tư duy theo hướng không quản lý được thì cấm hoặc hạn chế quyền. Và điều cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, khi các thi sinh đi thi với tư cách cá nhân tại một cuộc thi, thí sinh đó phải chịu trách nhiệm cá nhân trước những hành vi của mình. Luật pháp hiện hành quy định rất rõ ràng các chế tài xử lý đối với các hành vi ứng xử không phù hợp thuần phòng mỹ tục, truyền thống văn hóa Việt Nam, hay các hành vi làm ảnh hưởng xấu đến quan hệ đối ngoại… Do đó, hơn ai hết các thí sinh dự thi phải ý thức và chịu trách nhiệm trước những phát ngôn, hành động của mình không chỉ tại một cuộc thi mà ngay cả trong cuộc sống hàng ngày.

ĐÃ ĐẾN LÚC THAY ĐỔI

Với những phân tích ở trên, có thể thấy rằng quy định về việc cấp Giấy phép dự thi người đẹp, người mẫu tại nước ngoài không phù hợp với thực tiễn hiện nay. Trong thời đại toàn cầu không chỉ có kinh tế toàn cầu mà văn hóa cũng toàn cầu. Có nên chăng, chúng ta cần phải thay đổi cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, theo đó các người đẹp được tự do tham gia các cuộc thi tại nước ngoài nếu họ đáp ứng tiêu chuẩn do ban tổ chức đề ra. Nhưng sau cuộc thi, người dự thi đoạt giải phải có trách nhiệm báo cáo với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền về kết quả tham gia cuộc thi, qua đó cơ quan nhà nước sẽ nắm được danh sách các người đẹp của Việt Nam từng đoạt giải quốc tế nhằm hướng đến mục tiêu xây dựng các chiến lược quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam với bạn bè năm châu.

https://phuoc-partners.com/ban-tin/can-khong-giay-phep-di-thi-nguoi-dep-quoc-te-1679.html
Photo
Add a comment...

Post has attachment
PHUOC & PARTNERS THÔNG BÁO ĐỢT TUYỂN DỤNG MÙA HÈ 2017
Thân gửi các bạn ứng viên tiềm năng,
Công ty luật của chúng tôi hiện đang có nhu cầu tuyển dụng các vị trí nhân viên pháp lý & nhân viên hành chính cho các văn phòng làm việc tại Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Đây là một sự kiện mà chúng tôi đặc biệt quan tâm và thu hút được rất nhiều những ứng viên trẻ với sự đam mê với nghề, kinh nghiệm chuyên môn tốt và hội đủ các kỹ năng cần thiết cho từng vị trí tương đương.
Đợt tuyển dụng mùa hè của Phuoc & Partners sẽ chính thức bắt đầu từ hôm nay (10/7/2017) cho đến khi chúng tôi nhận đủ số lượng ứng viên phù hợp, cho các vị trí như sau:

1. Vị trí Associate – Hà Nội
(https://www.vietnamworks.com/02-litigation-corporate-associ…)
2. Vị trí Paralegal – Hồ Chí Minh & Hà Nội
(https://www.vietnamworks.com/04-paralegal-825075-jd)
3. Vị trí Internship – Hồ Chí Minh & Hà Nội
(https://phuoc-partners.com/news/internship-program-304)
4. Vị trí nhân viên lễ tân – Hồ Chí Minh
(https://www.vietnamworks.com/receptionist-192-825437-jd)
Vui lòng truy cập vào đường dẫn bên dưới để có thêm thông tin về quy trình tuyển dụng của chúng tôi.
https://phuoc-partners.com/news/career-opportunities-305

Chúng tôi rất mong đợi được làm việc với các ứng viên chuyên nghiệp, nhiệt tình và đam mê, nghiêm túc với nghề.

Trân trọng thông báo
Add a comment...

Post has attachment
Ngày 11/7/2017, Luật sư thành viên tại Phuoc & Partners, ông Lê Quang Vy đã tham gia bài trả lời phỏng vấn cho Tờ báo Đại Đoàn Kết, liên quan đến vấn đề đang được dư luận khá quan tâm: "Tận thu phí tác quyền âm nhạc có thể gây tổn thương tác giả".
*
Mới đây, việc Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) tiến hành thu tiền tác quyền âm nhạc ở quán cafe đã gây nên nhiều luồng ý kiến tranh cãi.

Phóng viên báo Đại Đoàn Kết đã có cuộc phỏng vấn luật sư Lê Quang Vy (Đoàn luật sư TP Hồ Chí Minh, đồng thời là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam), một chuyên gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, tư vấn pháp luật ngành công nghệ giải trí, xung quanh vấn đề này.

PV: Nhiều chủ khách sạn ở TP Đà Nẵng đã phản ứng dữ dội khi VCPMC đến yêu cầu thu phí bản quyền âm nhạc qua tivi trong phòng ngủ khách sạn của họ. Nhạc sĩ Phó Đức Phương- Giám đốc VCPMC nói, VCPMC tạm dừng không phải vì họ sai. Hiện tại, VCPMC vẫn thu phí ở khu vực khác như sảnh, bar khách sạn. Ông nghĩ sao về việc này?

Luật sư Lê Quang Vy: Việc VCPMC thu tiền các khách sạn có sử dụng âm nhạc để phát tại sảnh, nhà hàng hay quầy bar trong khách sạn là đúng với quy định tại Điều 33 Luật Sở hữu Trí tuệ (SHTT) và Điều 35 Nghị định 100/2006/NĐ-CP (NĐ100).

Tuy nhiên, qua thông tin báo chí, được biết vừa qua VCPMC yêu cầu các khách sạn tại Đà Nẵng phải trả phí bản quyền cho các ti vi để trong các phòng ngủ của khách sạn với mức phí 25.000/1 tivi/năm, vì các tivi này phát sóng các chương trình ca nhạc.

Việc thu này được VCPMC dẫn chiếu Điểm b Khoản 1 Điều 20 Luật SHTT và Khoản 1 Điều 23 NĐ 100 về quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng của chủ sở hữu quyền tác giả. Quan điểm cá nhân tôi cho rằng các căn cứ pháp lý mà VCPMC đưa ra trong trường hợp này là không ổn.

Bởi (i) các chủ khách sạn không phải là đối tượng biểu diễn; (ii), Luật SHTT hiện hành không có bất kỳ điều khoản nào quy định các tổ chức, cá nhân khi sử dụng cơ sở hạ tầng truyền dẫn phát sóng phải thực thi nghĩa vụ tác quyền. Và khi căn cứ pháp lý không thuyết phục thì các chủ doanh nghiệp khách sạn ở Đà Nẵng phản ứng là điều đương nhiên.

Theo ông, khi sản xuất một đĩa ca nhạc, bản nhạc, nhà sản xuất đã xin phép tác giả của tác phẩm đó. Cơ quan chức năng cũng đã cấp phép lưu hành. Đĩa được sản xuất ra rồi thì người sử dụng mua và nghe có phải trả phí không?
Nếu bạn mua CD hay DVD ca nhạc đem về nhà nghe hoặc để trong xe ôtô nghe thì bạn không phải trả thêm bất kỳ một khoản phí tác quyền nào.
Tuy nhiên nếu bạn mua CD hay DVD để nhằm mục đích kinh doanh thương mại, ví dụ như phát tại quán cafe, nhà hàng, khách sạn, siêu thị… nói chung là bất cứ môi trường nào có kinh doanh thương mại thì bạn phải trả tác quyền cho các chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan.

Cụ thể là trả tác quyền cho các nhạc sĩ có tác phẩm trong đĩa CD đó (gọi là quyền tác giả); trả tác quyền cho nhà sản xuất đĩa CD, và trả tác quyền cho cả những người biểu diễn trong CD đó (gọi là các quyền liên quan).

Như trên đã dẫn, việc thực thi nghĩa vụ tác quyền này được quy định tại Điều 33 Luật SHTT và Điều 35 NĐ 100. Hiện nay VCPMC là đơn vị thu tiền bản quyền cho các nhạc sĩ; Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam (RIAV) là đơn vị thu bản quyền liên quan cho các nhà sản xuất băng đĩa và Hội Bảo vệ quyền của nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc (APPA) là đơn vị thu bản quyền liên quan của nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc.

Tất nhiên các tổ chức này chỉ được thu trên cơ sở luật định và phải có sự ủy quyền của các chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan.

Ông nghĩ sao về cách thu khoán của VCPMC tại các quán cafe? Và khi VCPMC chi cho các tác giả liệu có thể chi khoán?

- Đây là sự thỏa thuận dân sự giữa các bên, tuy nhiên như chúng ta đã biết ngày nay pháp luật về quyền tác giả trên thế giới nói chung, ngoài việc bảo hộ quyền tác giả nhằm khuyến khích sự sáng tạo trong xã hội thì nó còn đặt ra mục đích là đảm bảo sự hài hòa, cân bằng được lợi ích giữa tác giả, người truyền đạt và công chúng thụ hưởng.

Bất cứ một tổ chức đại diện quyền tập thể nào tận thu phí khi cơ sở pháp lý còn chưa rõ ràng điều này chỉ làm tổn thương đến các tác giả và đồng thời còn gây ảnh hưởng đến nhu cầu hưởng thụ chính đáng của công chúng.

Theo ông, điều gì đang là bất cập trong việc thu phí quyền tác giả và pháp luật cần thiết bổ sung quy định gì về vấn đề này?

- Điều tôi băn khoăn nhất là mặc dù về nguyên tắc, các quán café, nhà hàng, khách sạn, siêu thị… khi họ sử dụng các tác phẩm âm nhạc thì họ phải có nghĩa vụ kê khai danh mục các bài hát, tên tác giả, tên các hãng sản xuất băng đĩa, tên các nghệ sĩ biểu diễn cho các tổ chức đại diện chủ sở hữu quyền.

Theo đó các tổ chức đại diện mới có cơ sở để chi trả lại cho các chủ sở hữu quyền. Hiện nay trên thực tế các tổ chức, cá nhân kinh doanh thương mại nói trên hầu như họ đều có thực hiện nghĩa vụ tác quyền theo luật định nhưng việc bảo họ kê khai danh sách bài hát, tên tác giả… chắc có lẽ chẳng có cá nhân, tổ chức nào cung cấp.

Vậy VCPMC, RIAV và APPA chi trả cho các chủ sở hữu quyền trên cơ sở nào? Và rồi cơ chế nào để các chủ sở hữu quyền kiểm tra được các tổ chức đại diện quyền tập thể được chủ sở hữu quyền ủy quyền thực thi đúng phạm vi được ủy quyền?

Đây là những câu hỏi mà Bộ VHTTDL với tư cách là cơ quan quản lý ngành cần có những hướng dẫn cụ thể nhằm minh bạch các khoản thu chi của các tổ chức đại diện tập thể. Nếu làm được điều này, thiết nghĩ không chỉ các chủ sở hữu quyền, mà kể cả người truyền đạt, công chúng thụ hưởng sẽ cảm thấy thoải mái, an toàn và công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ bản quyền của mình.

Trân trọng cảm ơn ông!

Từ Khôi (thực hiện)

https://phuoc-partners.com/ban-tin/tan-thu-phi-tac-quyen-am-nhac-co-the-gay-ton-thuong-tac-gia-1678.html
Photo
Add a comment...
Wait while more posts are being loaded