Profile cover photo
Profile photo
Tùy Duyên
258 followers -
Đạo tràng Tùy Duyên - plus.ly/tuyduyen - plus.ly/daotrangtuyduyen - plus.ly/tamtuyduyen
Đạo tràng Tùy Duyên - plus.ly/tuyduyen - plus.ly/daotrangtuyduyen - plus.ly/tamtuyduyen

258 followers
About
Tùy's posts

Post has attachment
Photo

Post has attachment
Photo

Post has attachment
PHẬT GIÁO VẤN ÐÁP (THE BUDDHIST CATECHISM)
(http://gplus.to/TuyDuyen)

PHẦN II: GIÁO PHÁP HAY DHARMA
PART II: THE DHARMA OR DOCTRINE

121. Hỏi: Tứ Diệu Đế là gì?
        Đáp: 1) Những khổ đau của sự sống tiếp diễn tạo nên vòng sanh tử luân hồi, từ đời này qua đời khác. 
                  2) Nguyên nhân sanh ra sự khổ là do lòng dục vọng ích kỷ, luôn luôn muốn tái diễn nhằm thỏa mãn bản thân mà không bao giờ có thể chấm dứt.
                  3) Sự diệt trừ lòng ái dục đó, hay tự mình lánh xa nó.
                  4) Con đường dẫn đến sựchấm dứt dục vọng.

122. Hỏi: Hãy kể cho tôi biết những điều gì gây nên sự khổ.
        Đáp: Sanh, lão, bệnh, tử;  phải sống xa những vật chúng ta yêu thích; gần gũi những người ta oán ghét; mong cầu điều mình muốn mà không được.

123. Hỏi: Những sự khổ này khác biệt nhau nơi từng mỗi cá nhân phải không?
        Đáp: Vâng, nhưng mọi người sẽ chịu sự khổ tùy theo mức độ (dục vọng).

124. Hỏi: Làm thế nào chúng ta giải thoát được những khổ đau tạo nên do lòng ái dục không biết thỏa mãn, và lòng tham mù quáng?
        Đáp: Bằng cách chế ngự và đoạn diệt hoàn toàn sự đắm say cuồng nhiệt cuộc sống và những lạc thú của nó, đã gây nên khổ đau. 

125. Hỏi: Làm sao chúng ta có thể đạt tới sự chinh phục như thế?
        Đáp: Bằng cách thực hành theo Bát Chánh Đạo mà Đức Phật đã chứng ngộ và chỉ bày (cho chúng ta).

126. Hỏi: Ý bạn muốn nói gì về danh từ đó? Bát Chánh Đạo có nghĩa thế nào? (từ ngữ Pali xin xem câu hỏi 78). 
        Đáp: Tám phần của con đường này gọi là angas. Chúng gồm có: 1. Chánh kiến (như là luật Nhân Quả hay Karma); 2. Chánh tư duy; 3. Chánh ngữ; 4. Chánh nghiệp; 5. Chánh mạng; 6. Chánh tinh tấn; 7. Chánh niệm; 8. Chánh định. Người nào ghi nhớ và thực hành theo Bát Chánh Đạo này sẽ không còn khổ đau và cuối cùng đạt tới sự giải thoát.


121. Q. Name these Four Noble Truths?
        A. 1. The miseries of evolutionary existence resulting in births and deaths, life after life.
              2. The cause productive of misery, which is the selfish desire, ever renewed, of satisfying on self, without being able ever to secure that end.
              3. The destruction of that desire, or the estranging of one’s self from it.
              4. The means of obtaining this destruction of desire.

122. Q. Tell me some things that cause sorrow?
        A. Birth, decay, illness, death. separation from objects we love, association with those who are repugnant, craving for what cannot be obtained.

123. Q. Do these differ with each individual?
        A.Yes, but all men suffer from them in degree.

124. Q. How can we escape the sufferings, which result from unsatisfied desires and ignorant cravings?
        A.By complete conquest over, and destruction of, this eager thirst for life and its pleasures, which causes sorrow.

125. Q. How may we gain such a conquest?
        A. By following the Noble Eight-fold Path, which the Buddha discovered and pointed out.

126. Q. What do you mean by that word: what is this Noble Eight fold Path ? (For the Pali name see Q. 78)
        A. The eight parts of this path are called angas. They are: 1. Right Belief (as to the law of Causation, or Karma). 2. Right Thought; 3. Right Speech; 4. Right Action; 5. Right Means of Livelihood; 6. Right Exertion; 7. Right Remembrance and Self-discipline;  8. Right Concentration of Thought. The man who keeps these angas in mind and follows them will be free from sorrow and ultimately reach salvation.

----
Phật Giáo Vấn Đáp (The Buddist Catechism)
Nguyên Tác: HENRY STEEL OLCOTT
Người Dịch: H. T. THÍCH TRÍ CHƠN
Photo

Post has attachment
12 Lời Nguyện Niệm Phật

1. Kính lạy Phật Di-Đà,
Con nay xin phát nguyện,
Thường niệm danh hiệu Ngài,
Hôm nay và mãi mãi.

2. Kính lạy Phật Di-Đà,
Con nay xin phát nguyện,
Thường niệm danh hiệu Ngài,
Cho trí sáng tâm khai.

3. Kính lạy Phật Di-Đà,
Con nay xin phát nguyện,
Thường niệm danh hiệu Ngài,
Sống an vui tự tại.

4. Kính lạy Phật Di-Đà,
Con nay xin phát nguyện,
Thường niệm danh hiệu Ngài,
Không ác ý với ai.

5. Kính lạy Phật Di-Đà,
Con nay xin phát nguyện,
Thường niệm danh hiệu Ngài,
Luôn nói lời từ ái.

6. Kính lạy Phật Di-Đà,
Con nay xin phát nguyện,
Thường niệm danh hiệu Ngài,
Không gây khổ cho ai.

7. Kính lạy Phật Di-Đà,
Con nay xin phát nguyện,
Thường niệm danh hiệu Ngài,
Hằng trì trai giữ giới.

8. Kính lạy Phật Di-Đà,
Con nay xin phát nguyện,
Thường niệm danh hiệu Ngài,
Luôn nhẫn nại khoan dung.

9. Kính lạy Phật Di-Đà,
Con nay xin phát nguyện,
Thường niệm danh hiệu Ngài,
Sắc tài không đắm nhiễm.

10. Kính lạy Phật Di-Đà,
Con nay xin phát nguyện,
Thường niệm danh hiệu Ngài,
Trừ phiền não trái oan.

11. Kính lạy Phật Di-Đà,
Con nay xin phát nguyện,
Thường niệm danh hiệu Ngài,
Trải lòng thương muôn loại.

12. Kính lạy Phật Di-Đà,
Con nay xin phát nguyện,
Thường niệm danh hiệu Ngài,
Chí vãng sinh không phai.
PhotoPhotoPhotoPhotoPhoto
A Di Đà Phật
356 Photos - View album

Post has attachment
PHẬT GIÁO VẤN ÐÁP (THE BUDDHIST CATECHISM)
(http://gplus.to/TuyDuyen)

PHẦN II: GIÁO PHÁP HAY DHARMA
PART II: THE DHARMA OR DOCTRINE

116. Hỏi: Khi vị Bồ Tát của chúng ta đã thành Phật, Ngài thấy điều gì là nguyên nhân khổ đau của nhân loại? Hãy nói cho tôi biết trong một danh từ.
        Đáp: Vô Minh (Avidyà).

117. Hỏi: Bạn có thể cho tôi biết phương thuốc chữa trị không?
        Đáp: Đoạn diệt Vô minh để có Trí tuệ (Pràjna).

118. Hỏi: Tại sao Vô Minh gây nên đau khổ?
        Đáp: Bởi vì nó khiến chúng ta tham đắm những điều không đáng đắm say, đau buồn khi chúng ta không nên sầu khổ; nhận cho là chân thực cái điều không phải thực mà chỉ là giả dối; và hướng cuộc sống của chúng ta chạy đuổi theo những đối tượng vô giá trị, xao lãng đến điều thực ra là quý giá nhất.

119. Hỏi: Và điều quý giá nhất là gì?
        Đáp:Thấu triệt tất cả sự mầu nhiệm của sự sống và định mạng của con người, để chúng ta ý thức được rằng cuộc sống này và những tương quan với nó không hơn giá trị chân thực của chúng; và do đó, chúng ta có thể sống theo con đường đạo để bảo đảm hạnh phúc lớn lao nhất, và sự ít khổ đau nhất cho đồng loại và chính chúng ta.

120. Hỏi: Ánh sáng gì có thể phá tan Vô Minh và diệt trừ được mọi phiền não của chúng ta?
        Đáp: Sự hiểu biết về “Tứ Diệu Đế” như Đức Phật đã dạy.


116. Q. When our Bodhisattva became Buddha, what did he see was the cause of human misery? Tell me in one word.
          A.Ignorance (Avidyà).

117. Q. Can you tell methe remedy?
          A.To dispel ignorance and become wise (Prajna).

118. Q. Why does ignorance cause suffering?
          A.Because it makes us prize what is not worth prizing, grieve when we should not grieve, consider real what is not real but only illusionary, and pass our lives in the pursuit of worthless objects, neglecting what is in reality most valuable.

119. Q. And what is that which is most valuable?
          A.To know the whole secret of man’s existence and destiny, so that we may estimate at no more than their actual value this life and its relations and so that we may live in a way to ensure the greatest happiness and the least suffering for our fellow men and ourselves.

120. Q.What is the light that can dispel this ignorance of ours and remove all sorrows?
          A.The knowledge of the “Four Noble Truths”, as the Buddha called them.

----
Phật Giáo Vấn Đáp (The Buddist Catechism)
Nguyên Tác: HENRY STEEL OLCOTT
Người Dịch: H. T. THÍCH TRÍ CHƠN
Photo

Post has attachment

Post has attachment
PHẬT GIÁO VẤN ÐÁP (THE BUDDHIST CATECHISM)
(http://gplus.to/TuyDuyen)

PHẦN II: GIÁO PHÁP HAY DHARMA
PART II: THE DHARMA OR DOCTRINE

110. Hỏi: Trong khi trải qua những kiếp tái sinh, sự phát triển dần dần này đang diễn tiến, chúng ta gọi tên hành giả là gì? 
        Đáp: Bodhisat hay Bodhisattva (BồTát). Nhưvậy, thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhartha Gautama) là một vị Bồ Tát cho đến khi Ngài thành Phật dưới cây Bồ Đề (Bodhi) thiêng liêng ở Gaya.

111. Hỏi: Chúng ta có tài liệu nào nói về những kiếp tái sinh của Ngài làm Bồ Tát hay không? 
        Đáp: Trong tập Bổn Sanh Kinh (Jàtakat-thakathà), cuốn sách ghi chép những truyện tiền thân của Bồ Tát, có khoảng vài trăm mẩu chuyện về loại đó. 

112. Hỏi: Những mẫu chuyện này dạy bài học gì? 
        Đáp: Một con người, trải qua vô lượng kiếp luân hồi, có thể mang hạnh nguyện rộng lớn và từ bi, giúp hành giả diệt trừ những ý tưởng xấu và phát triển các việc lành.

113. Hỏi: Chúng ta có thể ấn định số lượng những kiếp tái sinh mà một vị Bồ Tát cần phải trải qua trước khi Bồ Tát trở thành Phật được không? 
        Đáp: Dĩ nhiên là không. Điều đó tùy thuộc đức hạnh của vị Bồ Tát, trình độ tu chứng mà Ngài đạt tới khi BồTát phát nguyện trở thành Phật, và những điều khác. 

114. Hỏi: Chúng ta có cách để phân loại các vị Bồ Tát được không? Nếu được hãy giải thích. 
        Đáp: Bồ Tát - vị Phật tương lai - được phân làm ba hạng.

115. Hỏi: Hãy kể tiếp ba hạng Bồ Tát này là gì?
        Đáp: Pannàdhika hay Udghatitajna – “Bậc chứng quả chậm nhất”, Sadhàdhika hay Vipachitajna – “Bậc chứng quả chậm” và Viryàdhika hay Gneyya - “Bậc chứng quả nhanh chóng”. Bậc Bồ Tát Pannàdhika tu hạnh trí tuệ, bậc BồTát Saddhàdhika tu hạnh Tín, và Bồ Tát Viryàdhika tu hạnh Tinh tấn. Hạng Bồ Tát thứ nhất được hướng dẫn bởi Trí tuệ, và không vội vàng; hạng thứ hai hoàn toàn đặt ở Đức Tin, nên không chú tâm đến sự hướng dẫn của Trí Tuệ; và hạng thứ ba không bao giờ trì hoãn trong việc làm điều thiện, bất chấp mọi hậu quả xảy đến cho chính mình. Bồ Tát thực hành khi nhận thấy đó là việc lành nhất và cần phải làm.


110. Q. While this gradual development is going on throughout all these births, by what name do we call him?
        A. Bodhisat, or Bodhisattva. Thus the Prince Siddhartha Gautama was a Bodhisattva up to the moment when under the blessed Bodhi tree at Gaya, he became Buddha.

_111. Q. Have we any account of his various rebirths as a Bodhisattva? _
        A. In the Jatakatthakatha, a book containing stories of the Bodhisattva’s reincarnations there are several hundred tales of that kind.

112. Q. What lesson do these stories teach?
        A. That a man can carry, throughout a long series of reincarnations, one great good purpose which enables him to conquer bad tendencies and develop virtuous ones.

113. Q. Can we fix the number of reincarnations through which a Bodhisattva must pass before he can become a Buddha?
        A. Of course not: that depends upon his natural character, the state of development to which he has arrived when he forms the resolution to become a Buddha, and other things.

114. Q. Have we a way of classifying Bodhisattvas? If so, explain it?
        A. Bodhisattvas – the future Buddhas – are divided into three classes.

115. Q. Proceed. How are these three kinds of Bodhisats named?
        A. Pannàdhika, or Udghatitajna – “he who attains least quickly”; Saddhadhika, or Vipachitajna – “he who attains less quickly”; and Viryàdhika, or Gneyya – “he who attains quickly”. The Pannadhika Bodhisats take the course of Intelligence; The Saddhadhika take the course of Faith; the Viryàdhika take the course of energetic Action. The first is guided by Intelligence and does not hasten; the second is full of Faith, and does not care to take the guidance of Wisdom; and the third never delays to do what is good. Regardless of the consequence to himself, he does it when he sees that it is best that it should be done.

--
Phật Giáo Vấn Đáp (The Buddist Catechism)
Nguyên Tác: HENRY STEEL OLCOTT
Người Dịch: H. T. THÍCH TRÍ CHƠN
Photo
Photo
2013-06-18
2 Photos - View album

Post has attachment
PHẬT GIÁO VẤN ÐÁP (THE BUDDHIST CATECHISM)
(http://gplus.to/TuyDuyen)

PHẦN II: GIÁO PHÁP HAY DHARMA
PART II: THE DHARMA OR DOCTRINE 

106. Hỏi: Danh từ “Phật” (Buddha) có nghĩa là gì?
        Đáp: Bậc Giác Ngộ hay đấng có trí tuệ hoàn toàn.

107. Hỏi: Phải chăng bạn cho rằng có nhiều vị Phật đã ra đời trước Đức Phật (Thích Ca) này?
        Đáp: Vâng, chúng tôi tin rằng dưới sự vận hành của luật nhân quả vĩnh cửu, cứ khoảng cách một thời gian, một Đức Phật sẽ xuất hiện, khi nhân loại đắm chìm trong khổ đau vì vô minh và cần đến sự giác ngộ, thì hạnh nguyện của Đức Phật là phải ra đời để giáo hóa chúng sanh (xem lại câu hỏi số 11)

108. Hỏi: Bằng cách nào để (một chúng sanh) trở thành một đức Phật.
        Đáp: Một người, khi nghe và gặp một trong các  Đức Phật ra  đời  ở thế gian, liền phát nguyện sống theo Ngài như vậy, đến một kiếp trong tương lai, khi hành giả thấy nhân duyên thích hợp, họ cũng sẽ thành Phật để hướng dẫn nhân loại thoát vòng sanh tử luân hồi.

109. Hỏi: Hành giả đã hành động như thế nào? 
        Đáp: Trải qua nhiều kiếp sống, hành giả nỗ lực diệt trừ lòng tham dục, tu tập để đạt đến trí tuệ, và phát triển những năng lực cao hơn. Nhờ vậy, hành giả dần dần trở nên thánh thiện, siêu việt hơn trong cá tính, và sâu dầy hơn trong đạo đức cho đến khi, trải qua vô lượng kiếp luân hồi, cuối cùng hành giả đạt đến quả vị Toàn Thiện, Giác Ngộ, Toàn Giác, đấng Tôn Sư lý tưởng của nhân loại.


106. Q. What is the meaning of the word Buddha?
        A. The enlightened, or he who has the perfect wisdom.

107. Q. You have said that there were other Buddhas before this one?
        A. Yes, our belief is that, under the operation of eternal causation, a Buddha takes birth at intervals, when mankind have become plunged into misery through ignorance, and need the wisdom which it is the function of a Buddha to teach. (See also Q.11)

108. Q. How is a Buddha developed?
        A. A person, hearing and seeing one of the Buddhas on earth, becomes seized with the determination so to live that at some future time, when he shall become fitted for it, he also will be a Buddha for the guiding of mankind out of the cycle of rebirth.

109. Q. How does he proceed?
        A. Throughout that birth and every succeeding one, he strives to subdue his passions, to gain wisdom by experience, and to develop his higher faculties. He thus grows by degrees wiser, nobler in character, and stronger in virtue until, finally, after numberless re-births he reaches the state when he can become Perfected, Enlightened, All wise, the ideal Teacher of the human race.

------
Phật Giáo Vấn Đáp (The Buddist Catechism)
Nguyên Tác: HENRY STEEL OLCOTT
Người Dịch: H. T. THÍCH TRÍ CHƠN
Photo

Post has attachment
PHẬT GIÁO VẤN ÐÁP (THE BUDDHIST CATECHISM)

PHẦN I: ĐỜI SỐNG CỦA ĐỨC PHẬT
PART I: THE LIFE OF THE BUDDHA

101. Hỏi: Những chứng cứ xác thực gì cho chúng ta thấy rằng Đức Phật, thái tử Tất Đạt Đa xưa kia, là một nhân vật lịch sử? 
        Đáp: Sự hiện hữu của Ngài đã chứng tỏ quá rõ ràng nhưcuộc đời của bất cứ nhân vật nào khác trong cổ sử.

102. Hỏi: Hãy kể ra một vài chứng cớ đó.
        Đáp: 1) Bằng chứng của những nhân vật đã trực tiếp biết Đức Phật. 
                2) Sự khám phá ra nhiều nơi và di tích của những kiến trúc (tịnh xá) được ghi chép trong các mẩu chuyện vào thời Phật còn tại thế.
                3) Những bia ký, trụ đá và bảo tháp (dagobas) do các vua chúa sống gần thời đại Đức Phật xây dựng nên để tưởng niệm Ngài, đã có thể chứng thực lịch sử về cuộc đời của đấng Giác Ngộ.
                4) Sự liên tục tồn tại của đoàn thể tăng già (Sangha) do Đức Phật thành lập, và sự duy trì của họ về sự thực đời sống của Ngài ngay từ đầu, đã được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. 
                5) Sự kiện ngay trong năm Đức Phật nhập diệt, và nhiều lần sau đó, các cuộc họp và đại hội Tăng Già đã được tổ chức để kết tập kinh tạng đương thời của Đức Phật; và sự truyền thừa những giáo lý đã được duyệt xét đó, từ các bậc tôn sư đến chư đệ tử, cho đến ngày nay.
                6) Sau khi làm lễ hỏa táng, xá lợi (xương tro) của Đức Phật được phân chia cho 8 vị vua chúa, và mỗi ngọn tháp (stùpa) được xây lên để thờ một phần. Phần xá lợi do vua A Xà Thế thỉnh về tôn trí thờ tại ngôi tháp ở thành Vương Xá (Rajagaha); và không đầy 2 thế kỷ sau, đã được vua A Dục (Asoka) đem phân phát để thờ trong toàn khắp vương quốc của ông. Nhà vua, dĩ nhiên, có nhiều điều kiện để biết rõ những xá lợi này đúng là xá lợi của Đức Phật hay không; ngay từ lúc ban đầu, chúng được bảo trì tại bảo tàng viện hoàng gia ở Pát-Na (Patna).
                7) Nhiều đệ tử của Đức Phật là các bậc A La Hán (Arhats). Và do đó, có thể kiểm soát tuổi thọ của họ, nên đã sống được nhiều năm; và không tránh khỏi có hai hay ba vị trong số đó, đã sống kế tiếp nhau, vào thời kỳ khoảng giữa Đức Phật nhập diệt và triều đại của vua A Dục. Vì thế, nhà vua có thể nhận được từ người cùng thời, mọi điều chứng thực về sự kiện của đời sống Đức Phật(1).
                8) Chúng ta biết, tài liệu cổ sử đáng tin cậy nhất, tập “Đại sử”có ghi chép các biến cố lịch sử Tích-Lan (Sinhalese) về triều đại vua Vijaya, năm 543 trước tây lịch - phần lớn thời kỳ của Đức Phật – và cho chúng ta rõ những điều đặc biệt nhất về đời sống của Ngài, cũng như đời sống của vua A Dục và các nhà vua khác liên quan đến lịch sử Phật giáo.

103. Hỏi: Đức Phật được gọi bằng những danh xưng tôn kính nào?
        Đáp: Thích Ca Mâu Ni (Sàkyamuni), Thích Ca Sư Tử (Sàkya-Simha), Thiện Thệ (Sugata), Đạo Sư (Satthạ), Đấu Chiến Thắng (Jina), Bạc Già Phạm (Bhagavat), Thế Tôn (Lokanàtha), Nhất Thiết Trí (Sarvajna), Pháp Vương (Dharmaràja), Như Lai (Tathàgata) v.v… 


101. Q. What convincing proof have we that the Buddha, formerly Prince Siddhartha, was a historical personage?
        A. His existence is apparently as clearly proved as that of any other character of ancient history.

102. Q. Name some of the proofs?
        A. (1) The testimony of those who personally knew him.
              (2) The discovery of places and the remains of buildings mentioned in the narrative of his time.
              (3) The rock inscriptions, pillars and dagobas made in memory of himby sovereigns who were near enough to his time to be able to verifythe story of his life.
              (4) The unbroken existence of the Sangha which he founded, and their possession of the facts of his life transmitted fromgeneration to generation fromthe beginning.
              (5) The fact that in the very year of his death and at various times subsequently, conventions and councils of the Sangha were held, for the verification of the actual teachings of the Founder, and the handing down of those verified teachings fromteacher to pupil, to the present day.
              (6) After his cremation his relics were divided among eight kings and a stupawas erected over each portion. The portion given to King Ajatashatru, and by him covered with a stupa at Rajagaha, was taken, less that two centuries later, by the Emperor Asoka and distributes throughout his Empire. He of course, had ample means of knowing whether the relics were those of the Buddha or not, since they had been in charge of the royal house of Patna from the beginning.
              (7) Many of the Buddha’s disciples, being Arhats and thus having control over their vital powers, must have lived to great ages, and there was nothingto have prevented two or three of them, in succession to each other, to have covered the whole period between the death of the Buddha and the reign of Asoka, and thus to have enabled the latter to get from his contemporary every desired attestation of the fact of the Buddha’s life(1).
              (8) The “Mahavansa”, the best authenticated ancient history known to us, records the events of Sinhalese history to the reign of King Vijaya, 543 B.C. – almost the time of the Buddha – and gives most particulars of his life, as well as those of the Emperor Asoka and all other sovereigns related to Buddhistic history.

103. Q. By what names of respect is the Buddha called?
        A. Sàkyamuni (the Sàkya Sage); Sàkya Simha (the Sàkyan Lion); Sugata (the Happy One); Sattha (the Teacher); Jina (the Conqueror); Bhagavat (the Blessed One); Lokanàtha (the Lord of the World); Sarvajna (the Omniscient One); Dharmaràja (the King of Truth); Tathàgata (the Great Being); etc...

----------- 
(1) Tại Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ hai, vì thế cho nên đã có hai vị đệ tử của Ngài A Nan, sống đến 100 tuổi, và trong kỳ Đại Hội của vua A Dục (Asoka), lại có nhiều vị đệ tử của hai ngài đệ tử của Đức A Nan.

(1) At the Second Council there were two pupils of Ananda, consequently centerarians, while in Asoka’s Council there were pupils of those pupils.


--
Phật Giáo Vấn Đáp (The Buddist Catechism)
Nguyên Tác: HENRY STEEL OLCOTT
Người Dịch: H. T. THÍCH TRÍ CHƠN

(http://gplus.to/TuyDuyen)
Photo
Photo
2013-06-04
2 Photos - View album

Post has attachment
PHẬT GIÁO VẤN ÐÁP (THE BUDDHIST CATECHISM)

PHẦN I: ĐỜI SỐNG CỦA ĐỨC PHẬT
PART I: THE LIFE OF THE BUDDHA

94. Hỏi: Đức Phật đã đi giáo hóa trong bao nhiêu năm?
      Đáp: Bốn mươi lăm năm, trong thời gian này, Ngài đã thuyết rất nhiều bài pháp. Thói thường Đức Phật và đệ tử của Ngài đi du hóa và thuyết giảng trong 8 tháng nắng, nhưng vào mùa an cư (Was) - mùa mưa - đức Phật và các đệ tử dừng nghỉ, nhập hạ ở các tịnh xá (pansulas) hay chùa (vihàras), được xây cất dâng cúng (cho Ngài và Chư Tăng) bởi những vị vua chúa và thí chủ giàu có.

95. Hỏi: Những tịnh xá nào danh tiếng nhất?
      Đáp: KỳViên Tịnh Xá (Jetàvanàràma), Trúc Lâm Tịnh Xá (Veluvanàràma), Bổ La PhạTịnh Xá (Pubbàràma), Ni Câu Đà Tịnh Xá (Nigrodhàràma), và Lộc Dã Uyển Tịnh Xá (Isipatanàràma).

96. Hỏi: Hạng người nào đã quy y Đức Phật và đệ tử của Ngài?
      Đáp: Dân chúng đủ mọi tầng lớp, quốc gia, giai cấp, vua chúa (ràjas), và công nhân giàu nghèo, quyền thế cũng như bình dân, ngu dốt và thông minh nhất. Giáo pháp của Đức Phật phù hợp với tất cả mọi người.

97. Hỏi: Đức Phật đã nhập diệt vào lúc nào?
      Đáp: Vào năm thứ 45, sau khi Ngài chứng đạo Giác ngộ vào ngày trăng tròn tháng 5. Nhận biết rằng ngày viên tịch gần kề, vào buổi tối, Đức Phật đến thành Câu Thi Na (Kusinàgàra), một nơi cách thành phố Ba La Nại (Benares) khoảng 120 dặm. Trong rừng cây Sa La của vương quốc Mạt La (Mallas), tại rừng U-ba-vạc-ta-na (Upavartana) ở Câu Thi Na; giữa hai cây Sa La (sala), Đức Phật cho kê chỗ nằm của Ngài, theo phong tục cổ truyền, quay đầu về hướng bắc. Ngài nằm trên đó, với tâm hoàn toàn thanh tịnh, thuyết pháp cho các đệ tử nghe lời di giáo cuối cùng, rồi vĩnh biệt đồ chúng.

98. Hỏi: Những lần du hóa sau cùng đó, Đức Phật có quy y cho đệ tử mới nào nữa không?
      Đáp: Có, một nhân vật trọng yếu, vị đại Bà La Môn bác học tên Tu Bạt Đà La (Subhadra). Đức Phật cũng thuyết pháp cho các vương tôn xứ Mạt La và những người hầu cận của họ. 

99. Hỏi: Vào lúc tảng sáng việc gì đã xảy ra?
      Đáp: Đức Phật nhập đại định (Samàdhi), và rồi Ngài nhập Niết Bàn (Nirvàna).

100. Hỏi: Đức Phật khuyên các đệ tử của Ngài những gì trong lời di huấn cuối cùng?
      Đáp: Ngài dạy: “Này các Tỳ Kheo, Như Lai giờ đây khuyên các con nên ghi nhớ rằng thân thể và năng lực của con người đều phải hủy diệt. Hãy tinh tấn tu tập để giải thoát”.


94. Q. For how many years was the Buddha engaged in teaching?
      A. Forty-five years, during which time he preached a great many discourses. His custom and that of his disciples was to travel and preach during the eight dry months, but during the season of Was – the rains – he and they would stop in the pansulas and viharas which had been built for them by various kings and other wealthy converts.

95. Q. Which were the most famous of these buildings?
      A. Jetàvanàràma, Veluvanàràma, Pubbà-ràma, Nigrodhàràma and Isipatanàràma.

96. Q. What kind of people were converted by him and his disciple?
      A. People of all ranks, nations and castes, rajas and coolies, rich and poor, mighty and humble, the illiterate and the most learned. His doctrine was suited to all.

97. Q. Give some account of the decease of the Buddha?
      A. In the forty-fifth season after his attaining Buddhahood, on the full-moon day of May, knowing that his end was near, he came atevening to Kusinagara, a place about one hundred and twenty miles from Benares. In the sala grove of the Mallas, the Upavartana of Kusinagara, between two sala trees, he had his bedding spread with the head towards the north according to the ancient custom. He lay upon it, and with his mind perfectly clear, gave his final instructions to his disciples and bade them farewell.

98. Q. Did he also make new converts in those last tours?
      A. Yes, a very important one, a great Brahmana pandit named Subhadra. He had also preached to the Malla princes and their followers.

99. Q. At day break what happened?
      A. He passed into the interior condition of Samadhi and thence into Nirvàna.

100. Q. What were his last words to his disciples?
      A. “Bhikkhus”, he said: “I now impress it upon you, the parts and powers of man must be dissolved. Work out your salvation with diligence”.


------
Phật Giáo Vấn Đáp (The Buddist Catechism)
Nguyên Tác: HENRY STEEL OLCOTT
Người Dịch: H. T. THÍCH TRÍ CHƠN

(http://gplus.to/TuyDuyen)
Photo
Wait while more posts are being loaded