Profile cover photo
Profile photo
Nguyen Hung
215 followers
215 followers
About
Posts

Post has attachment
#Luátuuytin#luatsudatdai#luatsuhanoi#
Photo
Photo
18/11/2018
2 Photos - View album
Add a comment...

Post has attachment
Luật sư đất đai #luatsudatdai# luatsuuytin
Photo
Photo
17/11/2018
2 Photos - View album
Add a comment...

Post has attachment
Luật sư Hà Nội, công ty Luật uy tín
Photo
Photo
17/11/2018
2 Photos - View album
Add a comment...

Post has attachment
Yêu cầu hủy sổ đỏ khi tranh chấp đất đai
HỎI: Năm 2008, tôi có nhận chuyển nhượng 1 thửa đất diện tích 1892 m2 tại xã Kim Long, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu của ông Tín và đã được cấp sổ đỏ đứng tên tôi.
Năm 2011, đất của gia đình tôi bị chiếm dụng và người chiếm dụng là ông Cước đã từng tranh chấp đất với chủ cũ. Tuy nhiên vụ tranh chấp giữa ông Cước và ông Tín đến năm 2006 Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đã tuyên cho chủ cũ thắng. Năm 2008 thì ông Tín được cấp lại sổ đỏ mới và đã chuyển nhượng cho tôi bằng hợp đồng công chứng được lập tại xã Kim Long. Tôi cũng đã đóng thuế đầy đủ theo tên của tôi trên sổ.
Tôi canh tác trên đất này được 3 năm thì ông Tín qua đời và ông Cước trở lại dùng vũ lực để chiếm dụng toàn bộ thửa đất 1892 m2 (do tôi là người dân mới di cư đến) và không cho gia đình tôi canh tác trên đất đó.
Đến cuối năm 2017, UBND huyện Châu Đức lại có quyết định thu hồi và hủy sổ đỏ đã cấp cho tôi và năm 2008 với lý do là đình chỉ vụ án năm 2006.
Vậy luật sư cho tôi hỏi: Nếu vụ án năm 2006 đã đình chỉ giải quyết thì sao năm 2008 ông Tín lại được cấp sổ đỏ mới. Nhưng đến nay khi ông Tín mất thì UBND huyện lại thu hồi lại sổ đỏ của tôi.

Luật sư tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật Hưng Nguyên, về trường hợp của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:
Căn cứ theo nguyên tắc tố tụng và quy định tại Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì việc đình chỉ giải quyết vụ án đã có bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm là không đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên khi UBND huyện lấy lý do đã đình chỉ giải quyết vụ án năm 2006, chính vì thế bạn cần chứng minh lại về bản án sơ thẩm và phúc thẩm năm 2006 có tồn tại hay không? Từ đó chúng tôi xin tư vấn cho bạn các trường hợp sau:
Trường hợp 1: Bản án sơ thẩm và phúc thẩm năm 2006 là có thực
Trong trường hợp này, bạn chứng minh được bản án sơ thẩm và phúc thẩm năm 2006 có thực và đã có hiệu lực pháp luật. Vậy theo đúng như bản án thì tranh chấp giữa ông Tín và ông Cước là đã được giải quyết theo quyết định của bản án phúc thẩm và thửa đất thuộc quyền sử dụng của ông Tín.
Chính vì thế việc UBND huyện lấy lý do đất có tranh chấp tại thời điểm cấp sổ đỏ và tranh chấp bị đình chỉ giải quyết vụ án năm 2006 để hủy sổ đỏ của bạn là không đúng quy định pháp luật.
Để bảo đảm quyền lợi của mình, theo quy định tại Điều 17 Luật Khiếu nại năm 2014 và Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì bạn có thể giải quyết theo hai hình thức sau:
+ Cách 1: Bạn làm đơn khiếu nại nộp lên Chủ tịch UBND huyện Châu Đức yêu cầu giải quyết.
+ Cách 2: Bạn làm đơn khởi kiện quyết định hành chính của UBND huyện Châu Đức và nộp đơn tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trường hợp 2: Không có bản án sơ thẩm, phúc thẩm năm 2006
Như vậy, không có bản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm năm 2006, tức là tranh chấp giữa ông Tín và ông Cước chưa được giải quyết. Do đó việc giải cấp sổ đỏ cho ông Tín năm 2008 không đúng quy định pháp luật vì cấp sổ đỏ khi chưa đủ điều kiện cấp.
Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai năm 2013:
“Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp
2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:
d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.”
Như vậy, sổ đỏ cấp khi không đủ điều kiện thì cơ quan nhà có thẩm quyền thu hồi. Do đó việc UBND huyện Châu Đức thu hồi sổ đỏ của bạn là đúng quy định của pháp luật.
Quý khách có nhu cầu tư vấn trực tiếp chuyên sâu hoặc cung cấp dịch vụ vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT HƯNG NGUYÊN
Địa chỉ: Nhà số 14N 2 ngõ 90 đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: 024.8585 7869 Mobile: 098 775 6263
Website: http://dichvutuvanluat.com - http://congtyluathungnguyen.com
Email: congtyluathungnguyen@gmail.com.


Photo
Add a comment...

Post has attachment
Tư vấn pháp luật về tranh chấp thừa kế tài sản.
Hỏi: bà Lan chết cách đây ba năm, cuối năm 2015, ông hoàng chết. Ông bà để lại một căn nhà nhưng không có di chúc. Ông bà có năm người con, hai trai, ba gái, trong đó người con gái cả đã chết năm 2006. Do đã có nhà ở riêng nên các con của ông bà mùi đã thống nhất bán căn nhà đó. Khi bàn bạc để phân chia số tiền bán nhà thì phát sinh mâu thuẫn.
Các anh con trai của ông bà lan thì cho rằng, các cô con gái đã đi lấy chồng thì phải hưởng theo nhà chồng nên số tiền bán nhà của ông bà lan sẽ chia làm ba phần. Mỗi anh con trai được hưởng một phần, phần còn lại chia cho hai cô con gái, còn người chị cả đã chết nên không được hưởng. Hai người con gái của ông bà lan không đồng ý cách chia đó nên tìm mọi cách để không cho hai người anh bán căn nhà.
Hướng giải quyết như thế nào? Liệu có bán được nhà và ba người con gái có được hưởng tài sản thừa kế này không, xin nhờ luật sư tư vấn.
Trả lời: Cảm ơn quý khách hàng đã gửi câu hỏi tư vấn đến Công ty Luật Hưng Nguyên. Trường hợp của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:
- Trong tình huống này có hai 2 vấn đề pháp lý cần xem xét: Chia thừa kế căn nhà không có di chúc; người được hưởng phần thừa kế của người con đã chết.Cụ thể căn cứ vào những cơ sở pháp lý sau:
- Trong quy định của pháp luật dân sự về thừa kế có quy định việc thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Ông bà Mùi chết không để lại di chúc. Do vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì căn nhà mà ông bà Lan để lại sẽ được phân chia thừa kế theo pháp luật.
- Căn cứ khoản 1 điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì những người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
- Trong trường hợp này, nếu cha mẹ của cả ông và bà Lan đều không còn thì năm người con của ông bà Mùi là những người thừa kế theo pháp luật cùng thuộc hàng thừa kế thứ nhất.Theo quy định tại khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì năm người con của ông bà Lan được hưởng phần di sản bằng nhau. Như vậy, số tiền bán căn nhà mà ông bà Lan để lại phải được chia đều thành năm phần, mỗi người được hưởng một phần. Quan điểm của Hai người con trai là không chia cho ba người con gái còn lại là không đúng pháp luật.
- Trường hợp của người con đã chết của ông bà Lan:
Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thừa kế thế vị như sau: trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống.
Trong trường hợp này, người con gái của ông bà Lan đã chết trước ông bà nên các con của chị sẽ được hưởng phần di sản thừa kế mà chị được hưởng nếu còn sống.
Như vậy, số tiền bán căn nhà của ông bà Mùi để lại phải được chia làm 5 phần bằng nhau, mỗi người con của ông bà được hưởng một phần, trong đó, con của người chị cả sẽ được hưởng một phần thừa kế.
Thực tiễn tranh tụng và tham gia giải quyết của luật sư giỏi thấy rằng. Xuất phát từ quan niệm “ Con gái, đặc biệt là đã đi lấy chồng thì không được hưởng hoặc hưởng ít tài sản của bố mẹ để lại” đã đẩy những quan hệ truyền thống gia đình đến vụ án tranh chấp…Luật Việt Nam không chấp nhận quan điểm này và ghi nhận con trai con gái đều bình đẳng trong việc hưởng di sản do bố mẹ để lại. Khi bố mẹ chết đi không để lại di chúc mà có di sản để lại thì con gái và con trai được hưởng phần di sản theo pháp luật bằng nhau.
Trên đây là ý kiến tư vấn của công ty Luật Hưng Nguyên chúng tôi về một số tình huống pháp lý về thừa kế.
CÔNG TY LUẬT HƯNG NGUYÊN
Địa chỉ: Nhà số 14N 2 ngõ 90 đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: 024.8585 7869 hotline: 1900 636 396 mobile: 098 775 6263
Website: http://dichvutuvanluat.com - http://congtyluathungnguyen.com
Email: congtyluathungnguyen@gmail.com

Photo
Add a comment...

Post has shared content
Phạm tội do uống rượu bia vẫn phải xử lý hình sự
Điều 13. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác
Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bình Luận
Nếu trước đây Điều 14 Bộ luật hình sự 1999 chỉ thể hiện: “Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”, thì đến nay, qui định này đã được điều chỉnh. Cụ thể: Phù hợp về cách gọi tên, loại khái niệm về tình trạng say khi sử dụng rượu vì khi qui định như vậy, chúng ta cần phải làm rõ khái niệm say và khi nào người sử dụng rượu rơi vào tình trạng say hay ngoài rượu thì các loại nước uống nào có thể gây ra tình trạng tương tự. Rõ ràng qui định như vậy hoàn toàn không phù hợp về khái niệm khoa học cũng như chưa tương thích với các thuật ngữ, ý nghĩa trong các thành tố cấu thành tội phạm được qui định tại khái niệm tội phạm. Bởi lẽ khi nói đến tội phạm, chúng ta đề cập ngay đến năng lực trách nhiệm hình sự, trong khi đó năng lực trách nhiệm hình sự được xem xét trên ba yếu tố:
- Khả năng nhận thức.
- Khả năng điều khiển hành vi.
- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác chỉ tác động đến khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, chính vì vậy vấn đề về tuổi chịu trách nhiệm hình sự sẽ không được đề cập ở đây. Do vậy chúng ta không cần quan tâm đến tình trạng say hay không say của người sử dụng mà chỉ xem xét, đánh giá khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi là chuẩn mực nhất, phù hợp với nội hàm của khái niệm tội phạm.
Việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác có thể làm người sử dụng rơi vào trạng thái hạn chế hoặc mất hoàn toàn khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Trong trường hợp này, pháp luật qui định rất rõ người thực hiện hành vi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đến cùng nếu có hành vi phạm tội. Tuy nhiên tại Điều 8 về khái niệm tội phạm thì hành vi phạm tội phải được thực hiện bởi người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng xét về bản chất thì trước khi sử dụng rượu, bia hoặc các chất kich thích mạnh khác, người phạm tội hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức của mình, việc làm mất hoặc hạn chế là do lỗi của người sử dụng hay nói cách khác là họ tự mình tước đoạt đi khả năng đó và vì có lỗi nên họ buộc phải chịu trách nhiệm hình sự. Vậy đây có được xem là tình tiết giảm nhẹ khi áp dụng hình phạt hay không? Tất nhiên việc tự mình tước đoạt đi quyền của mình và xâm hại đến các quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ thì hoàn toàn không có cơ sở để xem xét giảm trách nhiệm. Thậm chí trong nhiều trường hợp, việc phạm tội do sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác được xem xét là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cụ thể:
- Điều 260: Tội vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ
….….
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a. ……
b. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hợi thở có nồng độ cồn vượt quá mức qui định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kich thích mạnh khác.
- Điều 267: Tội vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt
….…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a. ……
b. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hợi thở có nồng độ cồn vượt quá mức qui định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kich thích mạnh khác.
…...
Tuy nhiên cũng cần phải làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của người phạm tội do sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác. Sở dĩ, hành vi này có thể do người phạm tội tự thực hiện hoặc bị buộc phải sử dụng các chất kích thích để rơi vào trạng thái như vậy. Trong trường hợp bị ép buộc mà không còn cách nào khác hoặc bị lừa dối, đe dọa thì trách nhiệm hình sự sẽ không được đặt ra.
Qui định này mang tính giáo dục cao cũng như nhằm ngăn chặn, răn đe các đối tượng lợi dụng việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác để thực hiện hành vi phạm tội.
Photo
Add a comment...

Post has shared content
Phạm tội do uống rượu bia vẫn phải xử lý hình sự
Điều 13. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác
Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bình Luận
Nếu trước đây Điều 14 Bộ luật hình sự 1999 chỉ thể hiện: “Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”, thì đến nay, qui định này đã được điều chỉnh. Cụ thể: Phù hợp về cách gọi tên, loại khái niệm về tình trạng say khi sử dụng rượu vì khi qui định như vậy, chúng ta cần phải làm rõ khái niệm say và khi nào người sử dụng rượu rơi vào tình trạng say hay ngoài rượu thì các loại nước uống nào có thể gây ra tình trạng tương tự. Rõ ràng qui định như vậy hoàn toàn không phù hợp về khái niệm khoa học cũng như chưa tương thích với các thuật ngữ, ý nghĩa trong các thành tố cấu thành tội phạm được qui định tại khái niệm tội phạm. Bởi lẽ khi nói đến tội phạm, chúng ta đề cập ngay đến năng lực trách nhiệm hình sự, trong khi đó năng lực trách nhiệm hình sự được xem xét trên ba yếu tố:
- Khả năng nhận thức.
- Khả năng điều khiển hành vi.
- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác chỉ tác động đến khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, chính vì vậy vấn đề về tuổi chịu trách nhiệm hình sự sẽ không được đề cập ở đây. Do vậy chúng ta không cần quan tâm đến tình trạng say hay không say của người sử dụng mà chỉ xem xét, đánh giá khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi là chuẩn mực nhất, phù hợp với nội hàm của khái niệm tội phạm.
Việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác có thể làm người sử dụng rơi vào trạng thái hạn chế hoặc mất hoàn toàn khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Trong trường hợp này, pháp luật qui định rất rõ người thực hiện hành vi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đến cùng nếu có hành vi phạm tội. Tuy nhiên tại Điều 8 về khái niệm tội phạm thì hành vi phạm tội phải được thực hiện bởi người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng xét về bản chất thì trước khi sử dụng rượu, bia hoặc các chất kich thích mạnh khác, người phạm tội hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức của mình, việc làm mất hoặc hạn chế là do lỗi của người sử dụng hay nói cách khác là họ tự mình tước đoạt đi khả năng đó và vì có lỗi nên họ buộc phải chịu trách nhiệm hình sự. Vậy đây có được xem là tình tiết giảm nhẹ khi áp dụng hình phạt hay không? Tất nhiên việc tự mình tước đoạt đi quyền của mình và xâm hại đến các quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ thì hoàn toàn không có cơ sở để xem xét giảm trách nhiệm. Thậm chí trong nhiều trường hợp, việc phạm tội do sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác được xem xét là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cụ thể:
- Điều 260: Tội vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ
….….
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a. ……
b. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hợi thở có nồng độ cồn vượt quá mức qui định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kich thích mạnh khác.
- Điều 267: Tội vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt
….…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a. ……
b. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hợi thở có nồng độ cồn vượt quá mức qui định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kich thích mạnh khác.
…...
Tuy nhiên cũng cần phải làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của người phạm tội do sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác. Sở dĩ, hành vi này có thể do người phạm tội tự thực hiện hoặc bị buộc phải sử dụng các chất kích thích để rơi vào trạng thái như vậy. Trong trường hợp bị ép buộc mà không còn cách nào khác hoặc bị lừa dối, đe dọa thì trách nhiệm hình sự sẽ không được đặt ra.
Qui định này mang tính giáo dục cao cũng như nhằm ngăn chặn, răn đe các đối tượng lợi dụng việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác để thực hiện hành vi phạm tội.
Photo
Add a comment...

Post has attachment

Post has attachment
Phạm tội do uống rượu bia vẫn phải xử lý hình sự
Điều 13. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác
Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bình Luận
Nếu trước đây Điều 14 Bộ luật hình sự 1999 chỉ thể hiện: “Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”, thì đến nay, qui định này đã được điều chỉnh. Cụ thể: Phù hợp về cách gọi tên, loại khái niệm về tình trạng say khi sử dụng rượu vì khi qui định như vậy, chúng ta cần phải làm rõ khái niệm say và khi nào người sử dụng rượu rơi vào tình trạng say hay ngoài rượu thì các loại nước uống nào có thể gây ra tình trạng tương tự. Rõ ràng qui định như vậy hoàn toàn không phù hợp về khái niệm khoa học cũng như chưa tương thích với các thuật ngữ, ý nghĩa trong các thành tố cấu thành tội phạm được qui định tại khái niệm tội phạm. Bởi lẽ khi nói đến tội phạm, chúng ta đề cập ngay đến năng lực trách nhiệm hình sự, trong khi đó năng lực trách nhiệm hình sự được xem xét trên ba yếu tố:
- Khả năng nhận thức.
- Khả năng điều khiển hành vi.
- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác chỉ tác động đến khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, chính vì vậy vấn đề về tuổi chịu trách nhiệm hình sự sẽ không được đề cập ở đây. Do vậy chúng ta không cần quan tâm đến tình trạng say hay không say của người sử dụng mà chỉ xem xét, đánh giá khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi là chuẩn mực nhất, phù hợp với nội hàm của khái niệm tội phạm.
Việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác có thể làm người sử dụng rơi vào trạng thái hạn chế hoặc mất hoàn toàn khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Trong trường hợp này, pháp luật qui định rất rõ người thực hiện hành vi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đến cùng nếu có hành vi phạm tội. Tuy nhiên tại Điều 8 về khái niệm tội phạm thì hành vi phạm tội phải được thực hiện bởi người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng xét về bản chất thì trước khi sử dụng rượu, bia hoặc các chất kich thích mạnh khác, người phạm tội hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức của mình, việc làm mất hoặc hạn chế là do lỗi của người sử dụng hay nói cách khác là họ tự mình tước đoạt đi khả năng đó và vì có lỗi nên họ buộc phải chịu trách nhiệm hình sự. Vậy đây có được xem là tình tiết giảm nhẹ khi áp dụng hình phạt hay không? Tất nhiên việc tự mình tước đoạt đi quyền của mình và xâm hại đến các quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ thì hoàn toàn không có cơ sở để xem xét giảm trách nhiệm. Thậm chí trong nhiều trường hợp, việc phạm tội do sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác được xem xét là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cụ thể:
- Điều 260: Tội vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ
….….
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a. ……
b. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hợi thở có nồng độ cồn vượt quá mức qui định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kich thích mạnh khác.
- Điều 267: Tội vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt
….…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a. ……
b. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hợi thở có nồng độ cồn vượt quá mức qui định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kich thích mạnh khác.
…...
Tuy nhiên cũng cần phải làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của người phạm tội do sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác. Sở dĩ, hành vi này có thể do người phạm tội tự thực hiện hoặc bị buộc phải sử dụng các chất kích thích để rơi vào trạng thái như vậy. Trong trường hợp bị ép buộc mà không còn cách nào khác hoặc bị lừa dối, đe dọa thì trách nhiệm hình sự sẽ không được đặt ra.
Qui định này mang tính giáo dục cao cũng như nhằm ngăn chặn, răn đe các đối tượng lợi dụng việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác để thực hiện hành vi phạm tội.
Photo
Add a comment...

Post has attachment
Wait while more posts are being loaded