Profile

Cover photo
Ngọ Văn Tuấn - Trường THCS Châu Minh
Works at Trường THCS Châu Minh
Attended Trường ĐHSP Hà Nội
Lives in Ngọ Xá - Châu Minh
162 followers|176,138 views
AboutPostsPhotosYouTube

Stream

 
Nhân ngày gia đình Việt Nam 28/6/2015.
Xin gửi tới gia đình các bác, các anh chị, các bạn và các em lời chúc tốt đẹp nhất. Chúc các gia đình luôn luôn vui vẻ, bình yên, ấm áp và mãi mãi hạnh phúc!
 ·  Translate
1
 
Ngọ Văn Tuấn
 ·  Translate
1
 
Bùi Thị Xuân - Nữ đô đốc kiệt xuất nhà Tây Sơn


Đến chết gương anh dũng vẫn vang, bà là tấm gương dũng liệt không chỉ của triều đại Tây Sơn áo vải, mà còn là một trong những đại diện tiêu biểu cho khí phách nữ kiệt Việt Nam.
Ai từng đến bảo tàng Quang Trung tại Bình Định, được ngắm nhìn bức tượng người phụ nữ đang ngồi được sơn son thếp vàng với dòng chữ đề: "đô đốc Bùi Thị Xuân" hẳn sẽ thấy đây là một cái tên quen thuộc và không ngần ngại nán lại vài phút để nghe hướng dẫn viên lược sử về cuộc đời người nữ anh hùng thời Tây Sơn này để cảm được rằng tại sao vùng đất Bình Định lại vang danh câu ca dao “Ai về Bình Định mà coi. Con gái Bình Định múa roi đi quyền”. Và Bùi Thị Xuân cũng chính là vợ của danh tướng Trần Quang Diệu.
Bùi Thị Xuân (? - 1822) chính quê ở thôn Xuân Hào, tổng Phú Phong, huyện Tuy Viễn, phủ Qui Nhơn, nay là thôn Phú Xuân, xã Bình Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Bà là nữ tướng dan htiếng thơi Tây Sơn, cháu Thái sư Bùi Đắc Tuyên nhà Tây Sơn.
Là phận gái thân bồ liễu nhưng ở bà không chỉ hội tụ đủ yếu tố cần thiết của người phụ nữ thời phong kiến với luân lý Tam tong – Tứ đức, mà những phẩm chất trí, dũng, liệt… của trang nam nhi tuấn kiệt cũng hiện diện nơi bà, đưa bà trở thành một trong những danh tướng huyền thoại thời Tây Sơn, thậm chí là cả sử Việt cổ kim.
Thuở nhỏ thay vì làm bạn với đường kim, mũi chỉ thêu thùa, với cây đàn tỳ bà thánh thót, cô Xuân đi… học võ với thầy Đô thống Ngô Mạnh ở Thuần Truyền. Trong các môn sinh nam nữ, khả năng võ nghệ của Bùi Thị Xuân nổi bật, học đâu hiểu đó, đặc biệt giỏi môn song kiếm, do đó bà được sư phụ cho làm chức trưởng môn. Theo tương truyền, ngoài giỏi võ, Bùi Thị Xuân còn là người có nhan sắc, khéo tay, biết cả chữ thánh hiền, viết chữ rất đẹp.
Nhờ giỏi võ mà có lần bà cùng Trần Quang Diệu giết cả hổ và cũng từ lần tướng ngộ đó hai người nên vợ nên chồng, lại đồng chí hướng phò vua giúp nước, hai vợ chồng đầu quân theo khoiử nghĩa Tây Sơn. Từ đây tài năng võ nghệ đã đưa Bùi Thị Xuân trở thành một nữ võ tướng tiêu biểu dưới triều vua Quang Trung.
Cùng với chồng là tướng quân Trần Quang Diệu và các tướng lĩnh khác, Bùi Thị Xuân tham gia phong trào nông dân Tây Sơn, góp công đánh bại 29 vạn quân xâm lược Thanh năm 1789 Kỷ Dậu, cùng vua Quang Trung, rồi chiến tranh đối đầu với Nguyễn Ánh. Tài nghệ binh bị, giỏi sử dụng quân, can đảm dũng lược trong chiến đấu, bà góp cong lớn cho sự tạo dựng vương triều Tây Sơn, được Quang Trung phong là Đô đốc. Lực lượng tượng binh nhà Tây Sơn sở dĩ hùng mạnh cũng chính bởi tài giỏi luyện voi chiến của Bùi Thị Xuân. Thời ấy Bùi Thị Xuân là một trong “Tây Sơn ngũ phụng thư”, là một thành viên trong hàng Tứ kiệt dưới triều Nguyễn Huệ cùng Ngô Văn Sở, Võ Văn Phụng, Trần Quang Diệu. Sống với chồng trọn nghĩa phu thê, phò vua trọn đường tôi trung nên bà được chồng yêu, vua Quang Trung tin cẩn.
Cuộc đời bà là một trang sử bi tráng nhưng dũng liệt. Sự oai phong lộ ra cả khi đối mặt với cái chết. Năm 1792, nhà Tây Sơn dưới sự điều khiển của Quang trung đang đi lên thi vị vua áo vải cờ đào đột ngột băng hà, đất nước mất đi vị vua sáng. Quang Toản lên ngôi tức Cảnh Thịnh tài năng không bằng cha để triều đình bị quyền thần Bùi Đắc Tuyên thao túng. “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”, đấu đá nội bộ phe cánh nổ ra, nhà Tây Sơn dân suy vi. Đô đốc Bùi Thị Xuân vẫn một lòng trung nhưng “một cây làm chẳng nên non”, đến nỗi bà phải chết trong tay kẻ thù. Nguyễn Ánh lúc nhân nhà Tây Sơn lục đục, phát triển thế lực và cho quân tấn công nhiều nơi.
Năm 1800, nhân Tây Sơn đánh Qui Nhơn, Nguyễn Ánh từ Gia Định tập kích Phú Xuân, Cảnh Thịnh chạy về Nghệ An, Phú Xuân rơi vào tay quân Nguyễn Ánh. Tháng 1 năm 1801 tại Quảng Bình, trận đánh nơi chiến lũy Trấn Ninh và Đâu Mâu diễn ra quyết liệt giữa quân đô đốc Bùi Thị Xuân với quân Nguyễn, Bùi Thị Xuân luôn tiên phong hô hào binh sĩ, tự tay đánh trống thúc quân. Thân mình máu đẫm áo bào vẫn hiên ngang diệt giặc. Nhưng vua Cảnh Thịnh nhát gan thấy tương quan lực lượng bất lợi, lại nghe tin Nguyễn Ánh phá được thủy binh Tây Sơn tại cửa biển Nhật Lệ cho lui quân. Bùi Thị Xuân phải chạy về Nghệ An. Sau bà cùng chồng và con gái bị địch bắt. Triều Tây Sơn cũng suy tàn khi Nguyễn Ánh chiếm được Bắc Hà, lên ngôi Hoàng đế năm 1812.
Nguyễn Ánh vốn biết đô đốc Bùi Thị Xuân là danh tướng làm kinh hồn quân Nguyễn, mỗi khi giáp trận. Nay có bà trong tay như “cá nằm trên thớt” thừa quyền sinh sát, mới cho quân giải bà đến, hỏi với giọng đắc chí:
- Ta với chúa người, ai hơn ai?
Bà cười khảng khái đáp:
- Chúa của ta, tay kiếm, tay cờ mà làm nên sự nghiệp, trong khi nhà ngươi đi cầu viện ngoại bang, hết Xiêm đến Tàu làm tan nát cả sơn hà, lại bị chúa công ta đánh cho không còn mảnh giáp. Đem so với chúa của ta, nhà ngươi chẳng qua là nước vũng so với ao trời.
Bị chửi thẳng, Nguyễn Ánh tức giận:
- Ngươi có tài sao không giữ nổi ngai vàng cho Cảnh Thịnh?
Bà tiếp lời:
- Nếu có một nữ tướng như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không để lạnh, nhà ngươi khó mà đặt chân được tới Bắc hà.
Từ thế của kẻ bại trận, bà vẫn hiên ngang ngạo nghễ trước mặt kẻ thù trong tư thế của người chiến thắng. Chiến thắng sự kiêu ngạo của Nguyễn Ánh, chiến thắng của lòng trung thành với chủ tướng…
Cùng với 200 tướng lĩnh Tây Sơn khác, đô đốc Bùi Thị Xuân bị xử tội chết tại bãi chém An Hòa – Phú Xuân. Nhưng cái chết của bà thật oanh liệt làm kẻ thù phải khiếp sợ, thán phục, để cái chết mãi góp phần làm nên một phần tô điểm cho lòng kiên trinh, tiết tháo son sắt của người phụ nữ. Sự việc này diễn ra ngày 16 tháng 11 năm 1802. Để gây run sợ cho bà, giặc giết chồng bà, cho voi giày con gái bà, nhưng chúng đâu biết rằng chết cho dân, cho nước bà nào sá chi. Đến lượt Bùi Thị Xuân cũng bị voi giày, nhưng: “Bùi Thị Xuân không biến đổi sắc mặt, tiến đến trớc con voi như chọc tức nó. Mấy võ quan ra lệnh bắt bà quỳ xuống, bà cứ thản nhiên tiến bước. Voi lùi lại. Lính cầm giáo thọc vào đùi voi, con vật đau xông lên giương vòi quắp lấy bà rồi tung lên trời” (theo ký sự Relation sur de Tonkin et la Cochinchine của Giáo sĩ De la Bissachère).
Đã hai thế kỷ trôi qua, danh thơm của nữ đô đốc họ Bùi vẫn mãi lưu truyền như lời ca ngợi bà trong bài Bùi phu nhân của Nguyễn Trọng Trí:
Nam nhi bất hướng sa trường tử,
Cao ca nhất khúc khán Thị Xuân.
(Làm trai mà không dám đến sa trường để xả thân
Hát lớn một khúc ca mà xem gương Bùi Thị Xuân)
Bùi Thị Xuân, người nữ đô đốc kiên trung, gan dạ, nữ anh hùng thơm thảo xứ Tây Sơn. Dân tộc biết ơn bà, phụ nữ Việt tự hào khi có bà.
TRẦN ĐÌNH BA
 ·  Translate
1
Have him in circles
162 people
cuong ly's profile photo
Liên Trương's profile photo
Hoa Xương Rồng's profile photo
Long Thanh's profile photo
Ngọc Hoa Nguyễn's profile photo
ngọc phương lý's profile photo
Tới Nguyễn Văn's profile photo
Hue Tran's profile photo
Thế Vũ's profile photo
 
Vì sao Mỹ công khai lo ngại về Cam Ranh?
 ·  Translate
Lo ngại của Hoa Kỳ về việc Việt Nam đồng ý để Nga tiếp nhiên liệu cho chiến đấu cơ từ cảng Cam Ranh ...
2
3
Nguyễn Thị Bích's profile photo
 
trong này có em gái em :)
 ·  Translate
 
Lịch sử ngày Quốc tế phụ nữ và khởi nghĩa hai bà Trưng.


Hàng năm, cứ đến ngày 8/3, phụ nữ toàn thế giới trong đó có phụ nữ Việt Nam tổ chức kỷ niệm ngày quốc tế của giới mình. Chị em phụ nữ chúng ta hãy cùng nhau ôn lại lịch sử ngày Quốc tế phụ nữ 8/3.
Lịch sử ngày 8-3 bắt đầu từ phong trào nữ công nhân nước Mỹ. Cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa tư bản ở Mỹ đã phát triển một cách mạnh mẽ. Nền kỹ nghệ đã thu hút nhiều phụ nữ và trẻ em vào các nhà máy, xí nghiệp. Nhưng bọn chủ tư bản trả lương rất rẻ mạt, giờ giấc làm việc không hạn định cốt sao thu được nhiều sản phẩm cho chúng. Căm phẫn trước sự bất công đó, ngày 8-3 năm 1899, nữ công nhân nước Mỹ đã đứng lên đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm. Phong trào bắt đầu từ nữ công nhân ngành dệt và ngành may tại hai thành phố Chi-ca-gô và Nữu Ước. Mặc dù bị bọn tư bản thẳng tay đàn áp, chị em vẫn đoàn kết chặt chẽ, bền bỉ đấu tranh buộc chúng phải nhượng bộ. Cuộc đấu tranh của nữ công nhân Mỹ đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào phụ nữ lao động trên thế giới, đặc biệt phụ nữ ở nước Đức, một nước có kỹ nghệ tiên tiến lúc bấy giờ. Trong phong trào đấu tranh giai cấp lúc đó đa xuất hiện hai nữ chiến sỹ lỗi lạc, đó là bà Cla-ra Zet-kin (Đức) và bà Rô-gia Lúc-xăm-bua (Ba Lan). Nhận thức được sự mạnh mẽ và đông đảo của lực lượng lao động nữ và sự cần thiết phải có tổ chức, phải có lãnh đạo để giành thắng lợi cho phong trào phụ nữ nên năm 1907, hai bà đã cùng phối hợp với bà Crup-xkai-a (vợ đồng chí Lê-nin) vận động thành lập Ban "Thư ký phụ nữ quốc tế". Bà Cla-ra Zet-kin được cử làm Bí thư.
 

Năm 1910, Đại hội phụ nữ quốc tế XHCN họp tại Cô-pen-ha-gen (Thủ đô nước Đan Mạch) đã quyết định lấy ngày 8-3 làm ngày "Quốc tế phụ nữ", ngày đoàn kết đấu tranh của phụ nữ với những khẩu hiệu:
- Ngày làm 8 giờ.
- Việc làm ngang nhau.
- Bảo vệ bà mẹ và trẻ em.
Từ đó ngày 8/3 trở thành ngày đấu tranh chung của phụ nữ lao động trên toàn thế giới, là biểu dương ý chí đấu tranh của phụ nữ khắp nơi trên thế giới đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội; vì quyền lợi hạnh phúc của phụ nữ và nhi đồng.
Ở nước ta, vào ngày 8/3 còn là dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng – hai vị nữ anh hùng dân tộc đầu tiên đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ nguyên bờ cõi, giang sơn đất Việt.

Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng đã phất cờ khởi nghĩa. Lời hịch thiêng liêng “Đền nợ nước, trả thù nhà” đã nhận được sự hưởng ứng của các Lạc hầu, Lạc tướng, của những người yêu nước ở khắp các thị quận và đông đảo lực lượng là phụ nữ tham gia khởi nghĩa. Man Thiện (mẹ của Hai Bà Trưng), bà Lê Chân (Hải Phòng), bà Bát Màn (Thái Bình), bà Lê Thị Hoa (Thanh Hóa), bà Thánh Thiện (Hà Bắc)… ý chí kiên cường và lòng yêu nước của Hai Bà đã được đúc kết lại bằng những vần thơ bất hủ:
       “Một xin rửa sạch nước thù
       Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
       Ba kẻo oan ức lòng chồng
       Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”.
Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã lan rộng khắp nơi. Trong một thời gian ngắn, dưới sự lãnh đạo tài tình của Hai Bà, nghĩa quân đã đập tan chính quyền đô hộ. Tên tướng đô hộ là Tô Định phải cải trang bằng cách cắt tóc, cạo râu tìm đường tẩu thoát về nước.
Bà Trưng Trắc được các tướng lĩnh và nhân dân suy tôn làm vua. Bà lên ngôi và lấy niên hiệu là Trưng Nữ Vương; đóng đô ở Mê Linh (huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay).
Năm 42, nhà Hán lại kéo quân sang xâm lược nước ta. Hai Bà lại một lần nữa ra quân, phất cờ khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa lần này chỉ kéo dài được 2 năm do thế và lực của ta và địch chênh lệch quá lớn. Hai Bà đã dũng cảm chiến đấu và hy sinh anh dũng để giữ tròn khí tiết của mình, bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc.
Mặc dù chỉ giành độc lập trong thời gian ngắn nhưng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một bản anh hùng ca bất diệt, thể hiện ý chí độc lập, tự chủ và tinh thần dân tộc cao cả. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng còn là một minh chứng cho sức mạnh lớn lao, khả năng dồi dào của người phụ nữ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trang sử oanh liệt này sẽ mãi mãi được lưu truyền cho muôn đời con cháu mai sau.
Năm nay, chúng ta kỷ niệm 96 năm ngày Quốc tế phụ nữ (8/3/1910-8/3/2006) và 1966 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng trong lúc Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phúc phấn khởi tự hào với những thành tựu chính trị - kinh tế - xã hội đạt được năm 2005. Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh ra sức thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 76 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2006) và Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV thành công tốt đẹp; góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh ngay từ ngày đầu, quý đầu năm 2006.
Các cấp Hội phụ nữ và mỗi cán bộ, hội viên phụ nữ trong tỉnh hãy phát huy truyền thống vẻ vang của Hai Bà Trưng, thực hiện tốt nhiệm vụ công tác Hội năm 2006, chỉ đạo thành công Đại hội phụ nữ cơ sở tiến tới Đại hội phụ nữ các cấp nhiệm kỳ 2006-2011, thiết thực lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn trong năm 2006.
 
 ·  Translate
2
 
Các nữ tướng thời Hai Bà Trưng

Trong lịch sử Việt Nam và lịch sử các dân tộc trên thế giới đã xảy ra một sự kiện lịch sử thật kỳ lạ (và chỉ xảy ra có một lần), đó là ngay thế kỷ đầu Công nguyên (39-40) dân tộc ta đã theo lời kêu gọi của hai người phụ nữ trẻ tuổi (Trưng Trắc, Trưng Nhị) và đã tôn nhiều phụ nữ lên nắm quyền lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang để giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.

Hai Bà Trưng ra trận
Có lẽ do khí thiêng sông núi, do truyền thống bất khuất và tinh thần thượng võ của dân tộc ta mới hun đúc và sản sinh ra hai vị nữ anh hùng kiệt xuất và hàng chục nữ tướng tài ba như vậy:

Hai Bà Trưng đã được sử sách đời đời ghi chép công ơn, còn hơn hai mươi nữ tướng của Hai Bà Trưng tài ba lỗi lạc tuy chưa được ghi trong chính sử, song sự tích kỳ tài của các nữ tướng anh hùng đó đã được tạc trên bia đá, ghi vào thần phả và được nhân dân ta đời đời truyền tụng.

Chúng tôi xin giới thiệu danh sách các vị nữ anh hùng đó để minh họa cho sự kiện lịch sử đặc biệt oanh liệt dưới thời Hai Bà Trưng.

1.Thánh Thiên - nữ tướng anh hùng: Khởi nghĩa Yên Dũng, Bắc Đái - Bắc Giang. Được Trưng Vương phong là Thánh Thiên Công chúa. Hiện có đền thờ ở Ngọc Lâm, Yên Dũng, Bắc Ninh.

2. Lê Chân - nữ tướng miền biển: Khởi nghĩa ở An Biên, Hải Phòng, được Trưng Vương phong là Nữ tướng quân miền Biển. Hiện có đền Nghè, ở An Biên, Hải Phòng thờ.

3. Bát Nạn Đại tướng: Tên thực là Thục Nương, khởi nghĩa ở Tiên La (Thái Bình), được Trưng Vương phong là Bát Nạn Đại tướng, Trinh Thục công chúa. Hiện có đền thờ ở Phượng Lâu (Phù Ninh, Phú Thọ) và Tiên La (Quỳnh Phụ, Thái Bình).

4. Nàng Nội - Nữ tướng vùng Bạch Hạc: Khởi nghĩa ở xã Bạch Hạc (thành phố Việt Trì, Phú Thọ ngày nay) được Trưng Vương phong là Nhập Nội Bạch Hạc Thủy Công chúa. Hiện thành phố Việt Trì có đền thờ.

5. Lê Thị Hoa - Nữ tướng anh hùng: Khởi nghĩa ở Nga Sơn (Thanh Hóa) được Trưng Vương phong là Nữ tướng quân. Hiện ở Nga Sơn, Thanh Hóa có đền thờ.

6. Hồ Đề - Phó Nguyên soái: Khởi nghĩa ở Động Lão Mai (Thái Nguyên), được Trưng Vương phong là Đề Nương công chúa lãnh chức Phó nguyên soái. Đình Đông Cao, Yên Lập (Phú Thọ) thờ Hồ Đề.

7. Xuân Nương, Trưởng quản quân cơ: Khởi nghĩa ở Tam Nông (Phú Thọ), được Trưng Vương phong làm Đông Cung công chúa chức Nhập nội trưởng quản quân cơ nội các. Hiện có đền thờ ở Hưng Nha (Tam Nông), Phú Thọ.

8. Nàng Quỳnh - Nàng Quế tiên phong phó tướng: Khởi nghĩa ở Châu Đại Man (Tuyên Quang), được Trưng Vương phong làm tiên phong phó tướng. Hiện ở Tuyên Quang còn miếu thờ hai vị nữ anh hùng.

9. Đàm Ngọc Nga - tiền đạo tả tướng: Khởi nghĩa ở Thanh Thuỷ, Thanh Sơn, Phú Thọ được Trưng Vương phong là Nguyệt Điện Tế thế công chúa giữ chức Tiền đạo tả tướng quân.

10. Thiều Hoa - Tiên phong nữ tướng: Khởi nghĩa ở Tam Thanh, Phú Thọ. Được Trưng Vương phong là Đông Cung công chúa giữ chức Tiên phong hữu tướng. Hiện ở xã Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ có miếu thờ.

11. Quách A - Tiên phong tả tướng: Khởi nghĩa ở Bạch Hạc, Phú Thọ. Được Trưng Vương phong là Khâu Ni công chúa giữ chức tả tướng tiên phong. Hiện có đền thờ ở trang Nhật Chiêu (Phú Thọ).

12. Vĩnh Hoa - nội thị tướng quân: Khởi nghĩa ở Tiên Nha (Phú Thọ). Được Trưng Vương phong là Vĩnh Hoa công chúa giữ chức nội thị tướng quân. Đình Nghênh Tiên, xã Nguyệt Đức, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc thờ Vĩnh Hoa.

13. Lê Ngọc Trinh - Đại tướng: Khởi nghĩa ở Lũng Ngòi, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. Được Trưng Vương phong là Ngọc Phượng công chúa giữ chức Đại tướng quân. Hiện có miếu thờ ở Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc.

14. Lê Thị Lan - Tướng quân: Khởi nghĩa ở Đường Lâm - Sơn Tây. Được Trưng Vương phong là Nữ tướng quân. Hiện ở Hạ Hoà, Vĩnh Phúc có miếu thờ.

15. Phật Nguyệt- Tả tướng thuỷ quân: Khởi nghĩa ở Thanh Ba, Phú Thọ. Được Trưng Vương phong là Phật Nguyệt công chúa giữ chức Thao Giang Thượng tả tướng thuỷ quân.

16. Phương Dung - nữ tướng: Khởi nghĩa ở Lang Tài (Bắc Ninh). Được Trưng Vương phong là Phương Dung công chúa giữ chức nữ tướng quân.

17. Trần Nang - Trưởng Lĩnh trung quân: Khởi nghĩa ở Thượng Hồng (Hải Dương). Được Trưng Vương phong là Hoàng công chúa giữ chức Trưởng lĩnh trung quân. Hiện ở Yên Lãng, Vĩnh Phúc có đền thờ.

18. Nàng Quốc - Trung dũng đại tướng quân: Khởi nghĩa ở Gia Lâm - Hà Nội. Được Trưng Vương phong là Trung Dũng đại tướng quân. Hiện ở Hoàng Xá, Kiêu Kỵ, Gia Lâm thờ nàng Quốc.

19. Tam Nương - Tả đạo tướng quân: Ba chị em Đạm Nương, hồng Nương và Thanh Nương khởi nghĩa ở Quất Lưu, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Trưng Vương phong Đạm Nương làm Tả đạo tướng quân. Hồng Nương và Thanh Nương làm phó tướng. Đình Quất Lưu, Vĩnh Phúc thờ Tam Nương.

20. Quý Lan - Nội thị tướng quân: Khởi nghĩa ở Lũng Động, Chí Linh (Hải Dương). Được Trưng Vương phong là An Bình công chúa giữ chức nội thị tướng quân. Hiện ở Liễu Sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc có đền thờ.

Nếu cứ để các nơi đơn độc chống đỡ với kẻ thù, không có sự liên kết với nhau, thì kẻ thù sẽ lần lượt tiêu diệt từng nơi, như bẻ từng chiếc đũa. Thấy rõ nguy cơ đó. Hai Bà Trưng đã truyền hịch cứu nước và cử người đi khắp nơi để tập hợp lực lượng dưới ngọn cờ chỉ huy thống nhất của Trưng Nữ vương. Các nơi đã nhiệt liệt hưởng ứng, kéo quân hoặc cử đại biểu về Mê Linh tụ nghĩa.

Mùa xuân năm Canh Tý (3-40), Trưng Nữ vương hội quân ở Hát Môn làm lễ tế cờ chính thức phát động nhân dân cả nước khởi nghĩa đuổi giặc Hán, lật đổ ách thống trị hơn hai trăm năm của ngoại tộc. Nhân dân cả nước nhất tề đứng dậy dưới cờ lệnh của Trưng Nữ vương. Sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân ta được nhân lên gấp bội, khí thế ngút trời, như triều dâng thác đổ, làm cho kẻ thù không kịp chống đỡ, chỉ trong một thời gian ngắn 65 thành trì đã lần lượt về tay nghĩa quân, chỉ còn thành Luy Lâu, sào huyệt cuối cùng của Tô Định cũng bị phá vỡ trước sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân ta, đến nỗi Tô Định phải bỏ giáp, cắt râu, quẳng cả ấn tín tìm đường lẩn trốn về nước mới thoát chết.
 ·  Translate
2
 
Có hay không lễ cưới của Lý Chiêu Hoàng?

Ở ngôi trong khoảng thời gian ngắn, vai trò và tầm ảnh hưởng không lớn nên những gì mà người đời biết về bà chỉ như gió thoảng mây bay mà ai ít ngờ rằng còn rất nhiều điều kỳ thú về Lý Chiêu Hoàng.
Lý do Lý Chiêu Hoàng được nhường ngôi

Vua Lý Huệ Tông chỉ có hai người con gái, con cả là Thuận Thiên công chúa Lý Ngọc Oanh, người con thứ là Chiêu Thánh công chúa Lý Phật Kim.

Tháng 10 năm Giáp Thân (1224) Lý Huệ Tông xuống chiếu lập con gái thứ làm Hoàng thái tử rồi truyền ngôi, lý do là lúc đó Thuận Thiên công chúa đã được gả chồng, theo quan niệm “xuất giá tòng phu” thì Thuận Thiên công chúa không còn là người thuộc hoàng tộc họ Lý nữa. Mặt khác, Chiêu Thánh công chúa là con thứ lại còn nhỏ nhưng được Lý Huệ Tông rất yêu quý nên mới cho làm người kế thừa ngôi báu. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho biết:

“Bấy giờ hoàng hậu Trần Thị sinh được hai công chúa. Công chúa thứ hai là Phật Kim, nhà vua yêu lắm, định lập làm con kế tự, bèn ban cho nàng 24 lộ trong nước để làm ấp thang mộc.

Tháng 10, mùa đông, lập con gái là Phật Kim làm Thái tử. Nhà vua không khỏi bệnh, lại chưa có con trai thừa tự, trong cung duy có hai nàng công chúa, con lớn là Thuận Thiên, con bé là Chiêu Thánh, đều do Trần Thị sinh ra. Hiện nay, Thuận Thiên đã lấy Trần Liễu, nên nhà vua lập Chiêu Thánh làm Thái tử. Truyền ngôi cho con gái là Phật Kim, nhà vua ra ở chùa Chân Giáo”.

Có hay không lễ cưới của Lý Chiêu Hoàng?

Chúng ta thường nghĩ rằng Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh (sau là Trần Thái Tông) là đôi vợ chồng nhưng thực ra hoàn toàn không có lễ cưới của họ xét về mặt nghi thức, lễ tục hôn nhân. Hai người trở thành “vợ chồng” hoàn toàn chỉ qua lời nói của Trần Thủ Độ mà thôi.
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết: “Một hôm, Chiêu Hoàng lại lấy cái khăn trầu ném cho Trần Cảnh. Trần Cảnh lạy, nhận lấy, rồi mách với Thủ Độ. Thủ Độ liền đem gia thuộc và họ hàng vào trong cung cấm, sai đóng các cửa thành lại. Trăm quan tiến triều không vào được. Thủ Độ nhân thế, loan báo cho mọi người: "Bệ hạ đã có chồng rồi!". Các quan đều vâng lời và xin chọn ngày vào hầu để làm lễ yết kiến”.

Các thư tịch cổ khác như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án… đều có ghi chép tương tự. Riêng có sách An Nam chí lược của Lê Tắc thì cho hay vua Lý Huệ Tông đồng ý cho hai người thành hôn, có điều nghi thức lễ cưới có diễn ra hay chưa thì chưa xác định: “(Trần) Thừa có công đánh giặc, xin cho con kết hôn với công chúa Chiêu Thánh. Vương (Lý Huệ Tông) bằng lòng”.  

Ai là người soạn chiếu nhường ngôi cho Lý Chiêu Hoàng?

Dưới sự “đạo diễn” của Trần Thủ Độ, vở kịch chuyển giao ngôi vị từ họ Lý sang họ Trần hạ màn vào ngày 11 tháng Chạp năm Ất Dậu (1225), tại điện Thiên An, Lý Chiêu Hoàng xuống chiếu “nhường ngôi cho chồng”. Nội dung bài chiếu được ghi lại rõ ràng trong các sách sử nhưng người chủ trương viết tờ chiếu này thì ít ai rõ, nhưng có thể suy đoán đó là Thái hậu Trần Thị Dung, người đóng vai trò quan trọng trong sự kiện “chuyển giao ngôi vua” này.
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết: “Thái hậu là con gái Trần Lý, khi Lý Huệ Tông làm Thái tử vì tránh quốc nạn phải chạy ra miền Hải Ấp, Thái tử trông thấy Trần thị tỏ ý hài lòng, rồi lấy làm vợ, sau sách phong làm Hoàng hậu. Gặp lúc ấy trong nước loạn lạc, Hoàng hậu mới cùng với Thủ Độ tư thông, rồi bàn mưu ở trong cung làm tờ chiếu để vua nhà Lý truyền ngôi cho nhà Trần, vì thế mà nhà Lý mất ngôi vua”.


Tượng thờ Lý Chiêu Hoàng ở  đền Rồng –Bắc Ninh (Ảnh: tác giả)
Vợ nhường ngôi cho chồng là sự kiện chưa từng có

Sự kiện Lý Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh được nhiều sách sử ghi chép lại, nhưng chỉ có duy nhất bộ sử được viết vào thời nhà Nguyễn là Khâm định Việt sử thông giám cương mục có lời bình cụ thể về việc này và cho đó là chuyện cổ kim chưa chưa từng có trong lịch sử khi so sánh với một số trường hợp được ngôi vua ở các triều đại phương Bắc. Lời bình đó như sau:

“Thực là việc lạ, suốt nghìn xưa chưa hề có. Các triều đại Bắc phương chưa từng có chuyện được nước như vậy bao giờ. Kìa như họ Sài nối nhà Chu đã là chuyện lạ, nhưng cũng chưa lạ đến như thế. Xem ra cũng chẳng qua như bọn Vương Mãng và Dương Kiên đó thôi. Dầu chẳng mượn danh nghĩa là "bệ hạ có chồng", thiên hạ thế nào chắc cũng về tay họ Trần. Họ Trần lấy được nước, đều là nhờ công sức Thủ Độ, cũng như vua Thuận Trị nhà Thanh với Đa Nhĩ Cổn, chứ Trần Thái Tông có gì đáng khen đâu?”.

Lý Chiêu Hoàng có bao nhiêu người con?

Qua hai đời chồng là Trần Thái Tông (Trần Cảnh) và Lê Tần (Lê Phụ Trần), Lý Chiêu Hoàng đã sinh hạ tất cả 3 người con là:

 - Trần Trịnh là người con đầu tiên của Lý Chiêu Hoàng và cũng là kết quả của mối tình với vua Trần Thái Tông, sinh ra năm Quý Tị (1233) nhưng người con này đã chết sau khi sinh không lâu. Sách Đại Việt sử ký toàn thư đặt nghi vấn: “Hoàng thái tử sinh, tất phải chép rõ ngày, tháng, năm sinh; khi mất cũng thế. Đây chỉ chép khi mất, có lẽ là vừa mới sinh đã chết ngay, nên không chép ngày tháng sinh”.

- Trần Bình Trọng là con trai của Lý Chiêu Hoàng với tướng Lê Tần (Lê Phụ Trần) có tên là Lê Tông, khi trưởng thành được phong tước Thượng vị hầu, ông còn có tên khác là Lê Phụ Hiền sau này được ban quốc tính (họ vua) và đổi tên thành Trần Bình Trọng. Vua Trần Thái Tông đã gả công chúa Thụy Bảo cho Trần Bình Trọng, họ sinh được một người con gái tuyệt sau trở thành hoàng hậu của vua Trần Anh Tông. 

 - Lê Thị Ngọc Khuê: Con gái của Lý Chiêu Hoàng với tướng Lê Tần (Lê Phụ Trần), sinh năm Tân Dậu (1261), còn được gọi là Minh Khuê, có tài liệu như sách Việt Nam đại hồng sử thì viết bà hiệu là Kiều Thụy tên Minh Khuê. Sử sách và dã sử không cho biết rõ về cuộc đời của bà, chỉ biết rằng bà được phong làm Ứng Thụy quận chúa (có thuyết nói là Ứng Thụy công chúa) sau được gả cho Trần Cố, người xã Phạm Triền, huyện Thanh Miện, phủ Hạ Hồng, lộ Hải Đông (nay là thôn Phạm Lý, xã Ngô Quyền, huyện Thanh Miện, Hải Dương) đỗ Kinh trạng nguyên khoa Bính Dần (1266) đời Trần Thái Tông, làm quan đến chức Hiến sát sứ, Thiên chương các đại học sĩ.

Lý Chiêu Hoàng đã từng xuất gia đi tu

Chính sử không có ghi chép về việc Lý Chiêu Hoàng xuất gia tu Phật sau khi bị truất ngôi Hoàng hậu nhà Trần, nhưng từ bao đời này người dân làng Giao Tự (nay thuộc xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, Hà Nội) còn truyền tụng rằng ngôi chùa Linh Tiên của làng mình, xưa kia chính là nơi Lý Chiêu Hoàng về tu hành một thời gian. Bà trở về đây nương nhờ cửa Phật sau khi bị chồng là Trần Thái Tông (Trần Cảnh) giáng xuống làm công chúa.

Theo cuốn “Lý Thái Hậu thực lục”, sống với vua Trần nhiều năm mà đường con cái muộn mằn, Chiêu Hoàng luôn có nỗi buồn, bà bèn dâng biểu và được nhà vua ưng thuận. Từ đó, và rời cung cấm đi ngao du, thăm phong cảnh và giảng kinh thuyết pháp ở nhiều nơi, sau đó đến tu tại chùa Trấn Quốc bên Hồ Tây (theo sách Việt Nam đại hồng sử). Có thuyết khác nói Lý Chiêu Hoàng tu tại chùa Vân Tiêu nằm trên sườn núi phía tây Yên Tử lấy pháp danh là Vô Huyền, cho đến khi triều đình gả bà cho tướng Lê Tần (Lê Phụ Trần).

Những giả thuyết về cái chết của Lý Chiêu Hoàng

Chính sử không ghi rõ nguyên nhân cái chết của Lý  Chiêu Hoàng mà chỉ cho biết bà mất vào đầu năm Mậu Dần (1278): “Tháng 3, phu nhân Lê Phụ Trần là công chúa Chiêu Thánh Lý thị mất. Công chúa lấy Phụ Trần hơn 20 năm, sinh con trai là thượng vị hầu Tông, con gái là Ứng Thụy công chúa Khuê. Đến nay 61 tuổi thì mất” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Trái với ghi chép của chính sử, có một số thuyết khác nhau về cái chết của bà. Dã sử truyền rằng vào tháng 3 năm Mậu Dần (1278), bà phu nhân đại thần Chiêu Thánh (tức Lý Chiêu Hoàng) về thăm cố hương Cổ Pháp nhân chuẩn bị cho ngày giỗ tổ và bà đã qua đời tại đây, thọ 60 tuổi (tính tuổi mụ là 61). 

Có thuyết cho hay bà đã tự vẫn, hiện nay một số nơi như ở Đình Bảng (Bắc Ninh) vẫn truyền miệng về việc Lý Chiêu Hoàng sau khi được gả cho Lê Phụ Trần, bà theo chồng về sống Ái châu (Thanh Hóa), đến tuổi xế chiều bà đã trẫm mình tự vẫn, trong người bà có lá thư với nội dung viết rằng muốn thân xác mình sẽ trôi ngược trở về dòng sông Thiên Đức nơi đất Cổ Pháp quê hương. Khi thi thể Chiêu Thánh trôi qua nhiều vùng dân đã vớt được xác nhưng đọc thấy bức thư trong người bà họ lại thả xuống. Những nơi vớt được xác bà, người dân quanh vùng đều lập miếu thờ. Chỉ đến khi về đến quê, thi thể bà mới dừng lại, người dân đã táng bà bên rừng Báng thuộc đất Đình Bảng.

Sách Việt Nam đại hồng sử cũng viết tương tự như vậy và cho biết thêm rằng bà Chiêu Thánh đã trầm mình tự vẫn vào ngày 23 tháng 9 năm Mậu Dần (1278) tại bến Tắm.

Một nhà sử học thời Hậu Lê là Ngô Thì  Sĩ trong sách Việt sử tiêu án cũng ghi lại một thuyết nói đến chuyện bà Chiêu Thánh tự vẫn nhưng địa danh lại ở vùng đất thuộc Bắc Giang: “Hiện nay ở tỉnh Bắc Giang, có đầm Minh Châu, giữa đầm có phiến đá to, người ta truyền lại rằng: Bà Chiêu Thánh cắp hòn đá nhảy xuống đầm mà chết, trên bờ đầm có miếu Chiêu Hoàng. Đó là thổ dân nơi đó bênh vực hồi mộ cho bà Chiêu Hoàng mà đặt ra thuyết ấy”.

Đó chỉ là một số giả thuyết khác nhau về cái chết của bà Chiêu Thánh (Lý Chiêu Hoàng) được đặt ra và lưu truyền từ nhiều đời nay, khó có thể biết chính xác chuyện đúng sai của nó vì không có tài liệu chính thống nào ghi chép một cách rõ ràng, cụ thể.

Bia mộ Lý Chiêu Hoàng ở lăng Cửa Mả (Ảnh: Tác giả)
Lăng mộ Lý Chiêu Hoàng được đặt ở đâu?

Khi Lý Chiêu Hoàng mất, người dân thương tiếc an táng và đắp mộ bà ở bìa rừng Báng, phía Tây Thọ lăng Thiên Đức, hương Cổ Pháp quê nhà. Khu vực này thuộc hàng “sơn lăng cấm địa” được vua Lý Thái Tổ lựa chọn vào tháng 2 năm Canh Tuất (1010) làm nơi yên nghỉ của các nhà vua Lý. Khu vực Thọ Lăng Thiên Đức nay thuộc thôn Cao Lâm, xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh.

Tuy nhiên trong bài viết “Rủ nhau chơi khắp Long Thành” của nhà văn, nhà nghiên cứu Lý Khắc Cung ông cho biết lăng Lý Chiêu Hoàng ở gần Hồ Tây: “Đến quãng cách chợ Bưởi chừng 200m, có một bãi rộng thuộc xóm Vạc, làng Yên Thái. Nơi đây, có một ngôi mộ khá lớn. Năm 1936 được dân làng xây lên bằng gạch, quét vôi trắng, được mọi người tới thắp hương. Các cụ già bảo đó là mộ Lý Chiêu Hoàng. Bên cạnh mộ là những hàng cây cao vút xếp thành hàng. Vị nữ vương này còn để lại dấu vết trong lòng dân”.
Trong cuốn sách “Hà Nội - Văn hóa và Phong Tục”, một lần nữa ông lại nhắc đến ngôi mộ Lý Chiêu Hoàng, trong chương II của cuốn sách có đoạn viết rằng: “… Một bên là Hồ Tây thơ mộng, một bên là thành Đại La có ngôi mộ Lý Chiêu Hoàng rậm rạp cây cối…”.

Lăng mộ Lý Chiêu Hoàng
Tại Bắc Ninh, lăng mộ Lý Chiêu Hoàng được gọi là Lăng Cửa Mả. Cũng như lăng mộ các vua Lý khác, lăng mộ của bà đơn sơ, nhỏ bé vì tương truyền trước khi băng hà, Lý Thái Tổ đã dặn không xây lăng to đẹp mà chỉ đắp bằng đất để đỡ tốn tiền bạc của dân, do đó tuy gọi là lăng vua nhưng tất cả chỉ là những ngôi mộ đắp đất giản dị như của dân thường, điều đó thể hiện đức tính kiệm ước của các vua và hoàng tộc nhà Lý.

Trải bao biến thiên của lịch sử nhưng nơi yên nghỉ  các vua nhà Lý nói chung và Lý Chiêu Hoàng vẫn được giữ gìn cẩn thận. Thời gian gần đây chính quyền và nhân dân địa phương có xây dựng thêm trước mỗi mộ vua một gian thờ nhỏ và xây gạch quanh, trên mộ có dựng tấm bia hai mặt chữ Quốc ngữ và chữ Nho khắc chữ ghi miếu hiệu, tên húy, thời gian ở ngôi báu, tuổi thọ và ngày giỗ của các vua nhà Lý.
 ·  Translate
1
 
Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam trước năm 1930


Chủ Tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, vị lãnh tụ kính yêu của cả dân tộc Việt Nam. Người đã gắn bó cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng nước nhà, cả cuộc đời vì nước vì dân.
Có thể nói ít có ai có tấm lòng yêu nước thương dân vô bờ bến như Người. Đối với sự nghiệp cách mạng nước nhà, Người có công lao vô cùng to lớn và đã đi vào lịch sử dân tộc với những trang sử hào hùng, chói lọi nhất. Từ thưở thiếu thời cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng Người luôn trăn trở cho vận mệnh quốc gia, dân tộc. Nỗi lo lắng làm sao để cho nước nhà được độc lâp, nhân dân được sống trong sung sướng tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc luôn canh cánh bên Người.a

Nguyễn Aí Quốc tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại Làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Cha của Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc (1863-1929) đỗ Phó Bảng, bị ép ra làm quan, sau bị cách chức, chuyến sang làm nghề thầy thuốc. Mẹ của Người là bà Hoàng Thị Loan (1868-1900), một phụ nữ có học, đảm đang, chăm lo cho chồng con hết mực. Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, trên quê hương Nghệ Tĩnh giàu truyền thống đấu tranh cách mạng lại lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan nên Người sớm có tinh thần yêu nước. Người rất khâm phục tấm lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh của các bậc tiền bối như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phan Đình Phùng… nhưng lại không tán thành với con đường cứu nước của các cụ. Xuất phát từ lòng yêu nước và trên cơ sở rút kinh nghiệm thất bại của các thế hệ cách mạng tiến bối. Nguyễn Aí Quốc đã quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước mới hữu hiệu hơn.

Ngày 5/6/1911 tại Bến cảng Nhà Rồng chàng thanh niên Nguyễn Aí Quốc lấy tên là Nguyễn Tất Thành đã tạm rời xa gia đình, xa Tổ quốc để bắt đầu cuộc hành trình của mình.
Tuy nhiên khác với những thanh niên cùng trang lứa đều chọn Nhật Bản làm nơi dừng chân thì Nguyễn Aí Quốc lại hướng tầm nhìn của mình về các nước phương Tây, trong đó có Pháp. Sỡ dĩ Người chọn phương Tây làm nơi đến vì Người muốn tìm hiểu xem nước Pháp và các nước khác làm thế nào để trở về giúp đỡ đồng bào mình, hơn nữa Người cũng muốn biết nước Pháp là một tên đế quốc như thế nào mà lại sang xâm lược nước ta và theo người muốn đánh thắng giặc Pháp xâm lược thì cần phải tìm hiểu rõ về chúng, “ biết địch biết ta trăm trận trăm thắng “ chính vì lý do đó mà người đã quyết định sang phương Tây, sang nước Pháp. Người đã làm phụ bếp trên con tàu Latouche Treville của Pháp lênh đênh trên biển cả bắt đầu chuyến hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của mình.
Trong những năm đầu hoạt động cách mạng cho đến 1930. Nguyễn Aí Quốc đã có vai trò rất lớn đối với sự nghiệp cách mạng nước nhà. Vai trò đó được thể hiện ở các mặt sau đây:

Trước hết, khi rời Tổ Quốc. Người đã đi đến rất nhiều nước trên thế giới ở cả Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi nhưng ở đâu Người cũng hòa mình với cuộc sống của những người dân lao động cho nên Người rất thấu hiểu nỗi khổ của họ. Những chuyến đi đó giúp Người rút ra một kết luận rằng: Trên thế giới này, ở đâu bọn đế quốc thực dân cũng đều độc ác, ở đâu những người lao động cũng đều bị áp bức bóc lột dã man; trên thế giới này con người có nhiều màu da khác nhau, nhưng chung quy chỉ có hai hạng người: hạng người bị bóc lột và hạng người đi bóc lột.
Năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp, chọn Pari làm điểm dừng chân hoạt động. Tại đây, hoạt động đầu tiên của Người là đấu tranh đòi cho binh lính và thợ thuyền Việt Nam được sớm hồi hương trở về với gia đình.
Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã Hội Pháp, một đảng tiến bộ chủ trương chống lại các chính sách áp bức bóc lột của thực dân Pháp ở các nước thuộc địa. Tháng 6 năm 1919, nhân dịp các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất họp Hội nghị Vecsxai ở Pháp, Nguyễn Aí Quốc thay mặt nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam để tố cáo chính sách của thực dân Pháp và đòi chính phủ Pháp phải thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.
Bản yêu sách gồm 8 điểm như sau:
1. Tổng ân xá tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị.
2. Cải cách nền pháp lý Đông Dương bằng cách để người bản xứ cũng được quyền hưởng những quyền bảo đảm về mặt pháp luật như người Âu châu. Xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam.
3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận.
4. Tự do lập hội và hội họp.
5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương.
6. Tự do học tập, thành lập các trường kĩ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ
7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật.
8 .Có đại biểu thường trực của người bản xứ do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.
Những yêu sách nói trên không được chấp nhận, nhưng nó đã có ý nghĩa rất lớn. Đó là đòn tấn công trực diện đầu tiên của nhà cách mạng trẻ tuổi Nguyễn Aí Quốc vào bọn trùm đế quốc và nó đã có tiếng vang lớn đối với nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp và nhân dân các nước thuộc địa Pháp. Một bài học lớn đã được rút ra: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”.

Thứ hai, Nguyễn Aí Quốc là người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam:

Sau nhiều năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, bắt đầu từ 1911. Tháng 7 năm 1920. Nguyễn Aí Quốc đọc được Bản sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo - cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp. Người vui mừng đến phát khóc lên và muốn nói to lên như đang nói trước đông đảo quần chúng: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” . Nguyễn Aí Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Từ đó Nguyễn Aí Quốc hoàn toàn tin vào Lênin, tin vào Quốc tế thứ ba.
Quyết tâm đó của Nguyễn Aí Quốc càng được khẳng định rõ ràng khi tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua vào cuối tháng 12 năm 1920 Người đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế thứ III và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Hành động đó của Nguyễn Aí Quốc là sự kiện đánh dấu bước ngoặt lớn trong hoạt động cũng như tư tưởng chính trị của Người, từ lập trường yêu nước chuyển sang lập trường cộng sản. Sự kiện đó cũng mở ra cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam một giai đoạn phát triển mới, “giai đoạn gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và đi theo con đường cách mạng vô sản”, nó đánh dấu bước mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
Sau này, chính Người đã thừa nhận: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản đã làm tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ III. Từng bước một trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lí luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Thứ Ba, Nguyễn Aí Quốc là người đã tích cực chuẩn bị tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức cách mạng cho sự ra đời của chính đảng vô sản ở Việt Nam :
Sau khi đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc thông qua việc tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lênin và trở thành người cộng sản, từ 1921 trở đi Nguyễn Aí Quốc vừa hăng say hoạt động cách mạng, vừa học tập nghiên cứu lý luận để bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước của mình, đồng thời tích cực tìm mọi cách để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam nhằm chuẩn bị tiền đề về chính trị, tư tưởng cho việc thành lập chính đảng vô sản ở Việt Nam.
Trong điều kiện chính sách thống trị của Thực dân Pháp hết sức hà khắc, chúng tìm cách bưng bít mọi tư tưởng cách mạng tiến bộ trên thế giới thêm vào đó trình độ học vấn của nhân dân ta trong giai đoạn này còn thấp. Nguyễn Aí Quốc đã phải suy nghĩ, tìm tòi những hình thức thích hợp để từng bước truyền bá chủ nghĩa Mác –Lênin vào phong trào cách mạng Việt Nam. Người đã vận dụng những nguyên lý cơ bản của học thuyết này thành những vấn đề chính trị, đường lối, đạo đức để truyền bá vào Việt Nam .

* Thời gian ở Pháp:

Từ 1921 Nguyễn Aí Quốc dựa vào sự giúp đỡ của Đảng cộng sản Pháp đã cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa ở Pari để đoàn kết các lực lượng cách mạng chống chủ nghĩa thực dân và thông qua tổ chức này để đem chủ nghĩa Mác – Lênin đến với với các dân tộc thuộc địa. Hội quyết định sáng lập ra tờ báo Le Paria ( Báo Người cùng khổ) làm cơ quan ngôn luận của mình và ra số đầu tiên vào ngày 1/4/1922, tờ báo Người cùng khổ do Nguyễn Aí Quốc chủ biên kiêm chủ bút đã vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man của Chủ nghĩa đế quốc nói chung và đế quốc Pháp nói riêng, đồng thời thức tỉnh các dân tộc bị áp bức nổi dậy đấu tranh tự giải phóng.
Ngoài việc thành lập Hội liên hiệp thuộc địa và xuất bản báo Người cùng khổ, Nguyễn Aí Quốc còn tích cực tổ chức các buổi diễn thuyết và viết nhiều bài đăng trên các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, tập san Thư tín quốc tế…và viết cuốn sách nổi tiếng Bản án chế độ thực dân Pháp (xuất bản 1925). Mặc dù nhà cầm quyền Pháp tìm mọi cách ngăn chặn, cấm đoán nhưng các sách báo đó vẫn được bí mật chuyển về Việt Nam đúng vào lúc phong trào cách mạng Việt Nam đang phát triển mạnh, đặc biệt bước đầu xuất hiện những xu hướng cộng sản. Nhờ đó nhân dân ta, trước hết là những người tiểu tư sản trí thức yêu nước, tiến bộ ngày càng hiểu hơn bản chất của chủ nghĩa đế quốc nói chung và đế quốc Pháp nói riêng, hiểu được Cách mạng tháng Mười Nga và hướng về chủ nghĩa Mác – Lênin.
Bên cạnh đó, với tư cách là trưởng tiểu ban Đông Dương của Đảng cộng sản Pháp, Nguyễn Aí Quốc cũng đã góp phần quan trọng vào việc tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp ở các nước thuộc địa, đồng thời tiến hành tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin, xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp với các nước thuộc địa và phụ thuộc.

* Thời gian ở Liên Xô:

Tháng 6/1923 Nguyễn Aí Quốc bí mật rời khỏi nước Pháp và sang Liên Xô. Tháng 10/1923 Nguyễn Aí Quốc tham dự Hội nghị Quốc tế Nông dân lần thứ I ở Liên Xô và được bầu vào Ban chấp hành, tiếp đó Người vừa hoạt động vừa nghiên cứu, học tập, làm việc ở trụ sở Quốc tế cộng sản (Bộ phương Đông), viết bài cho báo Sự thật, tạp chí Thư tín quốc tế và một số sách báo khác…Đặc biệt từ ngày 17/6 đến ngày 8/7/1924, Người đã tham dự Đại hội lần thứ V của quốc tế cộng sản. Tại Đại hội này Người đã trình bày lập trường, quan điểm của mình về vị trí chiến lược của cách mạng các nước thuộc địa; về mối quan hệ giữa phong trào công nhân ở các nước đế quốc vói phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa; về vai trò và sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân ở các nước thuộc địa. Bản tham luận của Người đã gây chú ý dư luận tại Đại hội, góp phần đưa cách mạng Việt Nam ngày càng gắn bó chặt chẻ và trở thành một bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng vô sản thế giới.

Có thể nói thời gian hoạt động ở Liên Xô là thời gian mà Nguyễn Aí Quốc tiếp tục phát triển và hoàn chỉnh thêm tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc, thông qua nghiên cứu thực tiễn và học tập trong các sách báo mác xít. Nội dung tư tưởng chính trị của Người trong những năm 20 bao gồm những điểm chủ yếu như sau:
1. Người chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa thực dân là “ăn cướp” và “giết người’’. Vì vậy, chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới.
2. Cách mạng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới. Cách mạng giải phóng dân tộc phải thực hiện đoàn kết và liên minh với các lực lượng cách mạng quốc tế. Phải gắn liền sự nghiệp giải phóng dân tộc với giải phóng nhân dân lao động và giai cấp công nhân. Người nói: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới”.
Người cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có mối quan hệ khăng khít biện chứng với nhau, nhưng không phụ thuộc vào nhau. Cách mạng giải phóng dân tộc có thể bùng nổ và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Ở đây Nguyễn Aí Quốc muốn nhấn mạnh tới vai trò tích cực chủ động của các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh giải phóng khỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân.
3. Ở một nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân lại là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột nặng nề. Vì vậy, cách mạng giải phóng dân tộc muốn giành được thắng lợi cần phải thu phục, lôi cuốn được nông dân đi theo, cần phải xây dựng khối liên minh công nông làm động lực của cách mạng. Đồng thời trên cơ sở liên minh công nông phải thu hút, tập hợp được sự tham gia rộng rải của đông đảo các giai tầng xã hội khác vào trận tuyến đấu tranh của dân tộc.
4. Cách mạng muốn giành được thắng lợi, trước hết phải có đảng cách mạng nắm vai trò lãnh đạo. Đảng muốn vững, phải đi theo học thuyết Mác – Lênin. Đảng phải có đội ngũ cán bộ sẵn sàng hy sinh chiến đấu vì mục đích của đảng, vì lợi ích và sự tồn vong của dân tộc, vì lý tưởng giải phóng giai cấp công nhân và nhân loại.
5. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, chứ không phải việc của một vài người. Vì vậy cần phải tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao. Đây là quan điểm cơ bản đầu tiên của Nguyễn Aí Quốc về nghệ thuật vận động quần chúng tiến hành đấu tranh cách mạng.

Những quan điểm, tư tưởng cách mạng nói trên của Nguyễn Aí Quốc được thể hiện trong các tác phẩm của Người, cùng với các tài liệu khác đã được bí mật chuyển về trong nước, đến với các tầng lớp nhân dân Việt Nam, tạo ra một xung lực mới, như một cơn gió lạ thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng mới, một chất men kích thích phong trào dân tộc phát triển và nhanh chóng chuyển mình theo xu hướng cách mạng mới của thời đại. Cũng từ đây, nhũng gười yêu nước Việt Nam bắt đầu hướng về Nguyễn Aí Quốc, một lãnh tụ cách mạng thiên tài đang như ngọn hải đăng chỉ đường dẫn lối đưa toàn thể dân tộc và nhân dân đi tới độc lập, tự do.

*Thời gian ở Trung Quốc:

Sau một thời gian ở Liên Xô để học tập và nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng đảng kiểu mới, Nguyễn Aí Quốc đã lên đường về tới Quảng Châu. Vào cuối 1924 Nguyễn Aí Quốc đã tiếp xúc với các nhà cách mạng Việt Nam ở đây, nhất là nhũng thanh niên hăng hái trong tổ chức Tâm tâm xã để tiến tới thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (6/1925) với nhóm Cộng sản đoàn làm nòng cốt rồi truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam chuẩn bị cho việc thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, Người sáng lập tuần báo Thanh niên làm cơ quan tuyên truyền của Hội.

Có thể nói rằng Nguyễn Aí Quốc là người đã nhìn thấy yêu cầu cấp bách của cách mạng Việt Nam lúc này là cần phải có tổ chức để chuẩn bị cho những bước sắp đến. Tuy nhiên tổ chức này chưa phải là Đảng cộng sản mà trên cơ sở nhóm Cộng sản đoàn bao gồm những thành viên tích cực và trung kiên của Tâm tâm xã đễ thành lập một tổ chức cách mạng có tính chất quần chúng rông rãi hơn đó là Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
Sau khi đưa những thanh niên yêu nước Việt Nam vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Nguyễn Aí Quốc đã trực tiếp mở nhiều khóa huấn luyện chính trị nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán cho cách mạng Việt Nam. Từ 1924 – 1927 đã đào tạo được 75 hội viên. Một số được cử đi học ở trường Đại học Phương Đông (Liên Xô), một số đi học ở các trường quân sự ở Trung Quốc, Liên Xô…,còn phần lớn trở về nước hoạt động. Trong đó Người vừa tổ chức lớp học, vừa biên soạn tài liệu giảng dạy, vừa là giáo viên trực tiếp truyền đạt những nội dung học tập. Các bài giảng của Nguyễn Aí Quốc về sau được tập hợp trong cuốn Đường cách mệnh (1927).
Đây là tài liệu nhằm chuẩn bị cho những người yêu nước Việt Nam những quan điểm cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Trong tác phẩm này, Nguyễn Aí Quốc đã vạch ra những phương hướng cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, mở đường cho sự du nhập của chủ nghĩa Mác – Lênin và sự hình thành chính đảng vô sản ở trong nước.
Từ tác phẩm toát ra một yêu cầu cấp thiết hành động. Ba tư tưởng cơ bản được nêu lên: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng đông đảo nên phải động viên, tổ chức và lãnh đạo quần chúng nhân dân vùng dậy đánh đổ các giai cấp áp bức, bóc lột; cách mạng phải có đảng của chủ nghĩa Mác – Lênin lãnh đạo; cách mạng trong nước cần phải đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới và là một bộ phận của cách mạng thế giới. Mục đích của cuốn sách là để nói cho đồng bào ta biết rõ: “Vì sao chúng ta muốn sống thì phải cách mệnh – Vì sao cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc riêng của một hai ngừơi. Đem lịch sử cách mệnh các nước làm gương cho chúng ta soi. Đem phong trào thế giới nói cho đồng bào ta rõ Ai là bạn ta ? Ai là thù ta ? Cách mệnh thì phải làm thế nào ?

Hoạt động của Nguyễn Aí Quốc đã có tác dụng tích cực đến phong trào cách mạng trong nước. Từ năm 1926 Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã xây dựng nhiều cơ sở ở nhiều trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng, số lượng hội viên tăng lên nhanh từ 300 người (1928) lên đến 1700 người (1929). Đến đầu 1929 Hội đã có cơ sở hầu khắp cả nước rồi các tổ chức đoàn thể quần chúng của Hội cũng lần lượt ra đời. Đặc biệt phong trào vô sản hóa của Hội từ 1928 trở đi đã góp phần thực hiện việc kết hợp chủ nghĩa Mác – Leenin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước thúc đẩy nhanh tiến trình hình thành Đảng cộng sản ở Việt Nam.
Đến giữa 1929 nhu cầu thành lập tổ chức cộng sản chín muồi, Tân Việt cách mạng đảng có sự phân hóa và chuyển mình theo khuynh hướng cộng sản. Trước yêu cầu bức thiết của cách mạng. Tháng 3/1929 chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam được thành lập, để rồi từ tháng 6 – 9/1929 lần lượt 3 tổ chức cộng sản nối tiếp nhau xuất hiện là: Đông Dương Cộng sản đảng, An Nam Cộng sản đảng, Đông Dương Cộng sản liên đoàn taọ tiền đề trực tiếp cho sự ra đời của chính đảng vô sản ở Việt Nam.

Thứ Tư, Nguyễn Aí Quốc là người có công lao to lớn trong việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam:
Sự xuất hiện của 3 tổ chức cộng sản vào nữa sau 1929 ở Việt Nam lúc bấy giờ là một xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam, nhưng vì cả 3 tổ chức đều hoạt động riêng lẻ, công kích lẫn nhau, tranh giành địa bàn lẫn nhau nên đã gây trở ngại lớn cho phong trào cách mạng. Vì vậy, yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam lúc này là phải có một Đảng cộng sản thống nhất trong cả nước để lãnh đạo cách mạng.
Đúng vào thời điểm khó khăn phức tạp đó, lãnh tụ Nguyễn Aí Quốc đã xuất hiện như một vị cứu tinh của cách mạng và phong trào cộng sản Việt Nam.

Với tư cách là phái viên của Quốc tế cộng sản. Nguyễn Aí Quốc có quyền quyết định mọi vấn đề của phong trào cách mạng Đông Dương. Người quyết tâm thống nhất các lực lượng cộng sản ở Việt Nam để thành lập một Đảng cộng sản duy nhất. Được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản Nguyễn Aí Quốc đã triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam diễn ra từ ngày 03 – 07/02/1930 tại Hương Cảng (Trung Quốc)
Hội nghị gồm có 5 đại biểu, hai đại biểu của Đông Dương Cộng sản đảng (Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh), hai đại biểu của An Nam Cộng sản đảng (Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu) và Nguyễn Aí Quốc đại diện cho Quốc tế cộng sản chủ trì cuộc họp.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, với uy tín của Người và yêu cầu của cách mạng Việt Nam, các đại biểu tham gia hội nghị đã nhất trí tán thành việc hợp nhất Đông Dương Cộng sản đảng và An Nam Cộng sản đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ tóm tắt của Đảng do Nguyễn Aí Quốc soạn thảo.

Sau hội nghị hợp nhất đảng, ngày 24/02/1930 Đông Dương Cộng sản Liên đoàn xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam và đã được Ban chấp hành Trung Ương lâm thời đồng ý. Như vậy trên thực tế đến ngày 24/02/1930 thì ba tổ chức cộng sản ở nước ta đã được thống nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bản Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam “ là đội tiên phong của vô sản giai cấp”. Đảng chủ trương tiến hành “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng cách mạng tiên tiến của thời đại với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam…Sự ra đời của Đảng ngày 3/2/1930 đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước ở Việt Nam trong mấy chục năm qua. Đây là khâu chuẩn bị quan trọng đầu tiên cho một thời kỳ đấu tranh mới trong lịch sử dân tộc.

Như vậy Nguyễn Ái Quốc là người đã đứng ra triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng cũng chính Nguyễn Aí Quốc là người đã soạn thảo ra Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng.
Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Aí Quốc khởi thảo và thông qua tại Hội nghị đã vạch ra phương hướng phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng XHCN. Đường lối đó là kết quả của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữa tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Những văn kiện đó được xem là cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặt nền móng vững chắc cho con đường cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Như vậy, có thể nói rằng công lao của Nguyễn Aí Quốc đối với cách mạng Việt Nam là rất lớn, nhất là giai đoạn trước năm 1930. Nguyễn Aí Quốc là người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc – con đường cách mạng vô sản; tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào nước ta nhằm chuẩn bị mọi mặt về tư tưởng chính trị cho việc thành lập chính đảng vô sản ở Việt Nam, đặc biệt chính Người đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam để thành lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời xác định đúng đắn đường lối cách mạng, thể hiện trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do Người khởi thảo. Đó dược xem là cương lĩnh cách mạng đúng đắn của Đảng có tác dụng chỉ đạo xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
 ·  Translate
1
People
Have him in circles
162 people
cuong ly's profile photo
Liên Trương's profile photo
Hoa Xương Rồng's profile photo
Long Thanh's profile photo
Ngọc Hoa Nguyễn's profile photo
ngọc phương lý's profile photo
Tới Nguyễn Văn's profile photo
Hue Tran's profile photo
Thế Vũ's profile photo
Work
Occupation
Giáo Viên
Employment
  • Trường THCS Châu Minh
    Giáo Viên, present
  • Trường THCS Châu Minh
    Giáo Viên, 2002
Places
Map of the places this user has livedMap of the places this user has livedMap of the places this user has lived
Currently
Ngọ Xá - Châu Minh
Previously
Hiệp Hòa - Bắc Giang
Story
Tagline
Ngọ Văn Tuấn - Trường THCS Châu Minh - ĐT: 0906161181
Education
  • Trường ĐHSP Hà Nội
    Lịch Sử, 2004 - 2006
Basic Information
Gender
Male