XIN ĐỪNG VỘI THẾ BẠN ÔI!
(Vì bài viết khá dài nên bạn hãy phóng to trang lên 150-200% cho dễ đọc)

Đường luật (thường gọi là thơ Luật) là một thể loại thơ hình thành từ thời nhà Đường (618-907) bên Tàu, cách đây đã trên dưới 1.400 năm. Thể thơ này lan truyền vào nước ta chắc cũng đã chừng ấy năm. Vì thời gian đó nhà Đường đã cai trị nước ta hàng trăm năm và nền văn học trong nước ta cũng bắt đầu phát triển, đã có những người Việt đỗ đạt ra làm quan. Tuy nhiên chính xác như thế nào thì không có tài liệu xác thực, vì sau này vào thời nhà Hồ, nước ta lại bị giặc Tàu triều Minh xâm lược và chiếm đóng (1407-1427). Giặc Tàu đã cướp và thiêu hủy tất cả sách vở của ta nhằm thực hiện âm mưu đồng hóa nham hiểm của chúng.

            Tương truyền vào thời vua Trần Nhân Tông (1278-1293) nước ta có ông Hàn Thuyên là người đầu tiên làm thơ Đường luật bằng chữ Nôm (chữ ký âm tiếng Việt) nên thơ ấy còn được gọi là thơ Hàn luật (đáng tiếc là thuật ngữ này đã bị lãng quên vì cái bóng của Tàu quá lớn!).

            Tới thời nhà Hậu Lê, vua Lê Thánh Tông (1442-1497) là vị vua yêu thơ văn đã lập ra “Tao đàn nhị thập bát tú” vào năm 1495 để hoạt động sáng tác thơ văn. Nhờ vậy phong trào văn thơ trong nước phát triển mạnh mẽ, trong đó có thơ Luật.

           Kể từ đấy thơ Đường luật cùng với lệ “Nhất tam ngũ bất luận” đã thống trị thi đàn Việt cho tới khi bị phong trào Thơ Mới lật đổ vào nửa đầu thế kỷ 20 (Bài thơ được coi là bài thơ mới đầu tiên là bài “Tình già” của Phan Khôi công bố từ năm 1932).

           Trên suốt quãng đường dài hơn 450 năm, các bậc tiền nhân đã để lại cho chúng ta một gia tài thơ Luật to lớn cả chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ. Những tác phẩm ấy là những viên ngọc quý được nhiều thế hệ người Việt yêu mến, ngưỡng mộ.

            Thế nhưng gần đây có một số người lại dựa trên tài liệu “Tứ thanh bát bệnh” (có lẽ sưu tầm từ bên Trung quốc) để phán xét thơ Luật của tiền nhân. Theo họ thơ của tiền nhân hầu hết đều mắc lỗi, sai sót nhiều.

            “Tứ thanh bát bệnh” thật ra không phải là luật riêng của thơ Đường luật. Đó là một thuyết có trước khi thơ Đường luật ra đời hơn 100 năm. Tác giả là Thẩm Ước (441-513) sống vào thời Nam Bắc triều, làm quan lớn qua 3 triều Tống-Tề-Lương. Thuyết này là những quy ước về thanh cho loại thơ Cổ thể dùng để diễn ngâm nghe cho êm tai. 
            Sang thời Sơ Đường các nhà thơ sáng tạo thể Đường luật đã áp dụng thuyết này để hoàn chỉnh chính luật và tới thời Thịnh Đường thì hoàn thiện luật thơ cùng với lệ “nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh” (mà ta dùng ngày nay).

            Về sau các nhà thơ lại sáng tạo thêm những thể thơ Đường luật mới, có thể thơ vượt ra ngoài khuôn phép của luật thơ cũ, như: Thủ vĩ ngâm. Yết hậu, Lục ngôn thể, Liên hoàn, Song điệp, Tiệt hạ, Vĩ tam thanh. Trong đó các thể Song điệp, Tiệt hạ, Vĩ tam thanh là riêng của người Việt.

            “Tứ thanh bát bệnh” nêu ra 8 lỗi về thanh.
            Đồng thời những người theo thuyết này cũng nêu nhiều lỗi khác về luật. Tựu trung có 12 lỗi. Tổng cộng 20 lỗi.

01. Lạc vận: gieo vần khác nhau. 
02. Điệp vận: trong bài thơ 5 vần có 2 vần cùng một từ.
03. Thất Luật: thất luậtthất niêm thực ra chỉ là một, vì cả 2 đều qui định về thanh bằng-trắc. Nếu sai luật thì cũng hỏng niêm và ngược lại.
04. Thất niêm (xem trên)
05. Thất đối: đối không chỉnh (cần phân biệt đối từ và đối ý)
06. Khổ độc: đây là lỗi về thanh, câu thơ diễn ngâm nghe không êm tai (chữ thứ 5 câu lẻ và chữ thứ 3 câu chẳn theo chính luật là “bằng” thì không được đổi sang “trắc”). 
Nếu đúng luật “1,3,5 bất luận” thì lỗi này không kể, nhưng đối với thơ mang nội dung tình cảm nên cố gắng tránh lỗi này. Riêng với thơ trào phúng lỗi này nhiều khi tạo hiệu ứng tốt cho câu thơ, giống như nhịp chỏi, quãng nghịch trong âm nhạc.
07. Điệp thanh: trong cùng 1 câu thơ có 4 thanh cùng dấu thanh. 
08. Điệp điệu: nhịp các câu thơ liên tiếp giống nhau. Lỗi này không thể áp dụng với Đường luật vì thơ Luật thường theo nhịp 4/3, nếu không cùng nhịp thì không thể thực hiện phép đối ở cặp Thực và cặp Luận. Hơn nữa còn tùy thuộc cách ngắt nhịp khi diễn ngâm.
09. Điệp âm: trong cùng một câu có 2 từ bất kỳ trùng vần (có điểm tương đồng với lỗi 19&20).
10. Điệp tự: trong 1 bài thơ có 2 từ trở lên giống nhau.
11. Điệp ý: 2 hay nhiều câu thơ lặp lại ý.  
12. Phạm đề: tựa đề bài thơ có từ trùng với từ của câu Thực hoặc câu Luận. Lỗi này không cần thiết vì chẳng ảnh hưởng gì tới nội dung bài thơ.
13. Bình đầu: 3 chữ đầu câu của 4 câu liên tiếp cùng tự loại như danh từ, động từ...
14. Thượng vĩ: 3 chữ cuối hoặc 3 chữ thứ 5 của 4 câu liên tiếp cùng tự loại.
15. Phong yêu: chữ thứ 2 và chữ thứ 7 trong cùng một câu cùng dấu thanh.
16. Hạc tất: chữ thứ 4 và 7 trong cùng một câu cùng dấu thanh .
17. Chánh nữu: trong 1 câu có 3 chữ có phụ âm hay nguyên âm đầu giống nhau. 
18. Bàng nữu: trong 4 câu liên tiếp có từ 4 chữ  có phụ âm hay nguyên âm đầu giống nhau.
19. Đại Vận: Chữ thứ 4 và 7 trong cùng một câu trùng vần với nhau.
20. Tiểu Vận: Chữ thứ 2 và 7 trong cùng một câu trùng vần với nhau.
(Từ 13 tới 20 là 8 lỗi trong “Tứ thanh bát bệnh”)

            Trong 20 lỗi kể trên, có những lỗi thuộc chính luật cần phải tránh, nhưng có những lỗi không cần phải tránh, không nên coi đó là lỗi. Để làm sáng tỏ điều này, chúng ta thử xem xét vài bài thơ quốc âm tiêu biểu của mấy bậc danh nhân nước ta.

NGƯỜI ĂN MÀY
Chẳng phải ăn đong chẳng phải vay
Lộc trời để lại được ăn mày
Hạt châu chúa cất cao ngang mặt
Bệ ngọc tôi từng đứng chắp tay
Nam, bắc, đông, tây đều tới cửa
Trẻ, già, lớn, bé cũng xưng thầy
Ðến đâu dẹp hết loài muông cẩu
Thu cả càn khôn một túi đầy
(Hoàng đế LÊ THÁNH TÔNG)
Mắc 16 lỗi
ĐIỆP TỰ: câu 1&2 ăn, chẳng, phải
ĐIỆP THANH: câu 1 chẳng-phải-chẳng-phải
ĐẠI VẬN: câu 2 lại-mày
TIỂU VẬN: câu 7 đâu-cẩu
PHONG YÊU: câu 2 và 7 trời-mày & già-thầy
HẠC TẤT: câu 1 đong-vay
BÌNH ĐẦU: câu 1-4 lộc-hạt-bệ là danh từ
THƯỢNG VĨ: câu 3-7 mặt-tay-cửa-thầy-cẩu là danh từ
CHÁNH NỮU: câu 4 tôi-từng-tay trùng T
BÀNG NỮU: câu 1-4 chẳng-chẳng-châu- chúa-chắp,
                      câu 4-7 tôi-từng-tay-tây-tới,
                      câu 5-8 đông-đều-đến-đâu-đầy,
                      câu 5-8 cửa-cẩu-cả-càn.

QUA ĐÈO NGANG
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mái nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta
(BÀ HUYỆN THANH QUAN)
Mắc 15 lỗi
ĐIỆP TỰ : câu 2&8 chen, ta
BÌNH ĐẦU : Chữ đầu câu của 4 câu cuối Nhớ-Thương-Dừng cùng là động từ.
THƯỢNG VĨ : Chữ cuối 4 câu đầu hoa-chú-nhà cùng là danh từ,
Chữ cuối 4 câu cuối quốc-gia-nước cùng là danh từ.
PHONG YÊU : ở câu 2 cây-hoa cùng dấu thanh. Câu 5 nước - quốc cùng dấu thanh.
HẠC TẤT : Câu 3 núi-chú cùng dấu thanh. 
Câu 8 riêng-ta cùng dấu thanh.
CHÁNH NỮU : Câu 8 tình-ta-ta cùng phụ âm T. 
BÀNG NỮU : ở 4 câu cuối 5 chữ mang cùng phụ âm đầu là 5 chữ t và 4 chữ m, 5 chữ n.
ĐẠI VẬN : câu 2 đá-hoa trùng vần.
TIỂU VẬN :  Câu 6 nhà-gia trùng vần.

ĐÁNH ĐU
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng
Người thì lên đánh kẻ ngồi trông
Trai đu gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Chơi xuân có biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không
(HỒ XUÂN HƯƠNG)
Mắc 9 lỗi
ĐIỆP TỰ: câu 1&5 Bốn, câu 7 xuân.
BÌNH ĐẦU: câu 1-4 Người-Trai-Gái đều là danh từ.
THƯỢNG VĨ: câu 5-8 bay-duỗi-bỏ là động từ.
ĐẠI VẬN: câu 4 ong-lòng cùng vần.
ĐIỆP THANH: câu 3 trai-đu-khom-khom, câu 6 hai-chân-song-song, câu 7 chơi-xuân-xuân-chăng cùng dấu thanh.
BÀNG NỮU: câu 5-8 bốn-bay-biết-bỏ cùng b

ĐÓN TẾT
Anh em đừng nghĩ tết tôi nghèo
Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu
Rượu cúc nhắn đem hàng biếng quẩy
Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu
Bánh chưng sắp gói e nồm chảy
Giò lụa toan làm sợ nắng thiu
Thôi thế thì thôi đành tết khác
Anh em đừng nghĩ tết tôi nghèo
(TÚ XƯƠNG)
Mắc 9 lỗi
BÌNH ĐẦU : 4 câu đầu và 4 câu cuối đều mắc lỗi vì có danh từ ở đầu câu.
THƯỢNG VĨ: 4 câu đầu có 3 chữ cuối là động từ : tiêu, quẩy, kiêu.
PHONG YÊU : câu thứ 4: sen, kiêu  và câu 7: thế, khác cùng dấu thanh.
HẠC TẤT : câu 2: kho, tiêu cùng dấu thanh.
CHÁNH NỮU : Câu 7 có  4 phụ âm th :_Thôi, thế, thì, thôi_. 
BÀNG NỮU : 4 câu cuối có 4 phụ âm t : toan, tết, tết, tôi.
ĐIỆP TỰ: không tính điệp tự ở câu 1 và 8 vì đây là thể “thủ vĩ ngâm”. Nhưng tính lỗi điệp tự ở câu 7&8: “tết” và “thôi” trong câu 7.

THU ĐIẾU
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo 
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo 
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí 
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo 
Tầng mây lơ lững trời xanh ngắt 
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo 
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được 
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
(NGUYỄN KHUYẾN)
Mắc 11 lỗi
BÌNH ĐẦU: câu 1-4, ao-sóng-lá đều là danh từ.
PHONG YÊU: câu 1 thu-veo, câu 4 vàng-vèo.
HẠC TẤT: câu 2 câu-teo, câu 6 co-teo.
CHÁNH NỮU : câu 8 đâu-đớp-động.
BÀNG NỮU: câu 1-4  lạnh-lẽo-làn-lá, câu 4-7 lá-lơ-lững-lâu.
ĐẠI VẬN : câu 1 lẽo-veo.
ĐIỆP THANH : câu 1 ao-thu-trong-veo.
ĐIỆP VẬN: câu 2&6 teo-teo.

            Như vậy, qua mấy bài thơ tiêu biểu nêu trên ta thấy mắc rất nhiều lỗi. Tuy nhiên trừ lỗi điệp vận và lỗi điệp tự phần nào có ảnh hưởng tới bài thơ (riêng lỗi điệp tự có nhiều ý kiến cho rằng phải trùng từ 3 chữ trở lên mới tính, đồng thời không  tính nếu những từ ấy liền mạch thơ như câu “Một đèo một đèo lại một đèo”), còn lại những lỗi khác không hề làm giảm giá trị bài thơ. Vậy có cần thiết phải gọi đó là lỗi không?

            Chính vì qui định quá gò bó của luật thơ Đường luật khiến người làm thơ không thể phóng bút diễn đạt tình và ý nên các thi gia xưa mới đề ra lệ “nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh” để cởi trói cho người làm thơ. Vậy thì ngày nay dựng lại những điều trói buộc khắt khe cũ làm gì nếu không phải muốn biến người làm thơ thành thợ sản xuất thơ và càng nhấn chìm thơ Luật dưới làn sóng của biển thơ hiện đại.

            Nhà biên khảo Vinh Hồ đã rất chí lý khi nhận định rằng:
Ngày nay, thơ Đường luật được nhiều người làm sống lại bằng những hình thức cách tân noi theo bước chân tiền phong của các nhà thơ tiền bối có bản lĩnh sáng tạo như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương... mạnh dạn từ bỏ phong cách quý phái, đài các, cung đình: ưa xài điển tích, thích dùng Hán tự, vọng ngoại, vong bản, bắt chước, sáo mòn... để trở về với tình tự cội nguồn dân tộc Việt Nam đầy sinh động và sáng tạo của mình”.
*
               Thời xa xưa luật thơ được đưa vào thi cử nên nó là luật lệ. Thời nay không còn chế độ ấy nữa thì luật thơ chỉ đơn giản là một luật chơi  không hơn không kém. Ai muốn giữ luật thì cứ giữ; ai không theo thì cũng chẳng sao. Mà phá cách có khi lại sáng tạo thêm những thể mới như người trước đã từng làm, đã tạo ra các thể thơ như Yết hậu, Lục ngôn thể, Song điệp …vv.
            Vì vậy, bạn hoàn toàn có quyền giữ quan điểm riêng của bạn về luật thơ trói buộc chặt chẽ; bạn có quyền cổ xúy và vận động người khác ủng hộ quan điểm ấy, bạn  có thể viết bài phê phán phong trào cách tân thơ Luật, nhưng bạn không có quyền dùng quan điểm riêng để phê phán bất kỳ cá nhân nào không cùng quan điểm với bạn. 

               Cuối cùng, xin nêu ra một hoài nghi:  Tại sao trong suốt thời gian hơn 450 năm thịnh hành thơ Đường luật không ai nói gì về «Tứ thanh bát bệnh» để nâng cao chất lượng thơ (!), mà tới ngày nay thơ Luật gần như đã chết người ta lại lôi cái ấy ra, chắc chắn không phải để cứu thơ Đường luật. Vậy thì để làm gì?
(QUANG NAM)
----------------------------------------------------------------------
ĐỌC THÊM
MẤY BÀI THƠ ĐƯỜNG LUẬT BIẾN THỂ & PHÁ CÁCH

NGHIỆN
(Yết hậu)
Sống ở dương gian đánh chén nhè
Thác về âm phủ cắp kè kè
Diêm vương phán hỏi mang gì đó
Be 
(Chiêu Lỳ PHẠM THÁI)

ĐÁNH TỔ TÔM
(Yết hậu)
Tổ tôm tên chữ gọi hà sào 
Ðánh thì không thấp cũng không cao 
Ðược thì vơ cả thua thì chạy 
Nào!
(Uy Viễn tướng công NGUYỄN CÔNG TRỨ)

CẢNH NHÀN
(Lục ngôn thể)
Lọ là thành thị lọ lâm toàn
Được thứ thì hơn miễn phận nhàn 
Vụng bất tài nên kém bạn
Già vô sự ấy là tiên
Đồ thư một quyển nhà làm của 
Phong nguyệt năm hồ khách nổi thuyền
Dù nhẫn chê khen dù miệng thế
Cơ mầu tạo hóa mặc tự nhiên 
(Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM)

KHÔNG ĐỀ
(Vĩ tam thanh)
Ta nghe gà gáy tẻ tè te 
Bóng ác vừa lên hé hẻ hè 
Non một chồng cao von vót vót
Hoa năm sắc nở loẻ loè loe
Chim tình bầu bạn kia kìa kỉa 
Ong nghĩa vua tôi nhẹ nhẻ nhè 
Danh lợi mặt người ti tí tỉ 
Ngủ trưa thức dậy khoẻ khoè khoe
(KHUYẾT DANH)

KHOE LƯỜI
(Lục ngôn thể - Thủ vĩ ngâm)
Anh em chớ bảo ta lười
Làm việc cho hay phải thức thời 
Xuân hãy còn chơi cho phỉ chí
Hạ mà cất nhắc tất hoài hơi 
Thu sang cảm nguyệt còn ngâm vịnh 
Ðông lại hầm chăn tạm nghỉ ngơi 
Chờ đến xuân sang ta sẽ liệu 
Anh em chớ bảo ta lười
(TÚ MỠ) 

NỖI NIỀM
(Song điệp)
Nhớ nhớ thương thương phận ngã xiêu
Vương vương vấn vấn giấc cô liêu
Say say tỉnh tỉnh người cam chịu
Đắm đắm mê mê kẻ dám liều
Ngẩn ngẩn ngơ ngơ dào dạt tưởng
Thờ thờ thẩn thẩn thiết tha yêu 
Buồn buồn tủi tủi nhòa mi ướt
Luyến luyến lưu lưu nỗi nhớ nhiều
(NHƯ NGỌC)

CHỪA RƯỢU
(Áp cú)
Những lúc say sưa cũng muốn chừa
Muốn chừa nhưng tỉnh lại hay ưa 
Hay ưa nên nỗi không chừa được
Chừa được nhưng mà cũng chẳng chừa 
(NGUYỄN KHUYẾN)
(3 dấu huyền ở câu cuối tạo nên sự hóm hĩnh của bài thơ)

XUÂN VÀ THƠ
(Điệp vận) 
Xuân tự ngàn xưa bạn với Thơ 
Tình Xuân là cả vạn lời Thơ 
Ðẹp duyên hoa bút Xuân ngời sắc 
Rộn khúc Xuân thiều nhạc ánh Thơ
Xuân vắng oanh hờn sầu dáng liễu 
Xuân về hương tỏa ngát lời Thơ 
Xuân nương thi sĩ đôi người ngọc 
Dệt mộng ngày Xuân lộng ý Thơ 
(LẠC NAM)

TÁM MỪNG
(Nhất đồng) 
Mừng đón xuân về muôn sắc hoa
Mừng xuân xuân mới mới thêm ra
Mừng nghe nhựa sống như còn trẻ
Mừng thấy đời tươi chửa muốn già 
Mừng khỏe đôi chân đi đứng vững 
Mừng tinh cặp mắt ngắm nhìn xa 
Mừng nhau tuổi Thọ tăng tăng mãi 
Mừng được trường xuân hưởng thái hòa 
(LẠC NAM) 
--------------------------------------------  
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đại Việt sử ký (Lê Văn Hưu & các tác giả).
Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim).
Việt Nam văn học sử (Dương Quảng Hàm).
Tài liệu của các tác giả Vinh Hồ, Huỳnh Ngọc Văn, Huỳnh Hữu Đức và Wikipedia.
Xin mạn phép dùng các tác phẩm của các tác giả Như Ngọc, Lạc Nam để minh họa.
Photo
Shared publiclyView activity