Profile cover photo
Profile photo
Phòng Thương mại và Công nghiệp Chi nhánh tại Hải Phòng
23 followers -
Liên kết doanh nhân việt - Linking Business
Liên kết doanh nhân việt - Linking Business

23 followers
About
Phòng Thương mại và Công nghiệp Chi nhánh tại Hải Phòng's posts

Post has attachment

Post has attachment
THƯ MỜI THAM GIA HỘI VIÊN VCCI HP
 

THƯ MỜI THAM GIA HỘI VIÊN VCCI HP
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam là tổ chức quốc gia tập hợp, đại diện Cộng đồng doanh nghiệp và Người sử dụng lao động ở Việt Nam nhằm mục đích hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng của doanh nghiệp, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và khoa học – công nghệ giữa Việt Nam với Quốc tế góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có trách nhiệm tập hợp ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp để báo cáo với Thủ tướng Chính phủ, phản ánh và tham gia ý kiến với các cơ quan Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương và Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách kinh tế nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Hàng năm, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã tổ chức hàng trăm cuộc hội thảo, lớp học nâng cao năng lực quản lý cho doanh nghiệp phục vụ hàng ngàn lượt cán bộ, nhân viên doanh nghiệp; Tổ chức các hoạt động xúc tiến tìm kiếm thị trường, tìm kiếm đối tác đầu tư kinh doanh, liên doanh liên kết; Tổ chức tọa đàm, đối thoại với các tổ chức và cơ quan Nhà nước; Giải quyết hàng trăm kiến nghị của doanh nghiệp, tư vấn, hướng dẫn cung cấp văn bản pháp luật; Cung cấp báo Diễn đàn Doanh nghiệp và các thông tin hữu ích khác cho doanh nghiệp.
Chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại Hải Phòng có hơn 1.900 hội viên trên địa bàn các tỉnh miền Duyên hải phía Bắc, xin gửi kèm theo đây Điều lệ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam để Quý đơn vị nghiên cứu, xem xét.
Nếu có nguyện vọng gia nhập hội viên Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, xin trân trọng đề nghị Quý đơn vị gửi Đơn đăng ký làm hội viên chính thức (theo mẫu của Phòng) và Bản phô tô đăng ký kinh doanh về Chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại Hải Phòng.
Photo

Post has attachment
QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CỦA HỘI VIÊN VCCI HP
 

QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CỦA HỘI VIÊN CHÍNH THỨC
PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
 Hội viên chính thức là các doanh nghiệp, các tổ chức sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động, các hiệp hội doanh nghiệp có đăng ký và hoạt động hợp pháp ở Việt Nam.
Hội viên chính thức được hưởng quyền lợi và có những nghĩa vụ sau đây

I/ QUYỀN LỢI
Được hưởng sự giúp đỡ của  Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trong những lĩnh vực sau đây để thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình ở trong và ngoài nước:
1.1 Giới thiệu với các bạn hàng, thị trường trong và ngoài nước và giúp bắt mối giao dịch với họ.
1.2  Tổ chức mời các đoàn nước ngoài vào và cử các đoàn ra nước ngoài để khảo sát thị trường, giao dịch buôn bán và thu hút đầu tư.
1.3  Tìm hiểu về thị trường, thương nhân, tư vấn về những vấn đề pháp lý và các vấn đề khác liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình.
1.4  Tham gia các hội chợ triển lãm, hội nghị, hội thảo và các lớp đào tạo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức hoặc tham gia tổ chức.
1.5  Trao đổi thông tin, quảng cáo và tuyên truyền giới thiệu về các sản phẩm và hoạt động của mình.
1.6  Xin cấp bằng sáng chế và giải pháp hữu ích, đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ của mình ở trong và ngoài nước.
1.7  Xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ và chứng nhận các chứng từ cần thiết khác trong giao dịch thương mại theo tập quán quốc tế.
1.8  Giải quyết những tranh chấp có thể nảy sinh trong các quan hệ kinh doanh với bạn hàng trong và ngoài nước.
1.9  Được sử dụng các dịch vụ khác do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hoặc những tổ chức bên cạnh Phòng cung cấp ở trong và ngoài nước với mức phí ưu đãi.
2. Được thôi là hội viên nếu xét thấy không thể hoặc không muốn tiếp tục tham gia.
3. Được tham gia Đại hội của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (nếu được bầu), được thảo luận và biểu quyết các công việc của Phòng.
4. Được ứng cử và đề cử vào các tổ chức lãnh đạo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
5.Được tham gia vào những Ủy ban chuyên môn và tổ chức mà Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam lập ra ở trong và ngoài nước (nếu được mời) và sử dụng những tổ chức đó để giúp thực hiện các hoạt động của mình.
6. Được đề xuất, góp ý kiến và yêu cầu Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thay mặt mình kiến nghị với Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung các chính sách luật lệ... liên quan đến hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh của mình nói riêng; được Phòng đứng ra bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
7. Được nhận những thông tin và ấn phẩm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và sử dụng những thông tin và ấn phẩm đó để tuyên truyền, giới thiệu, tổ chức của mình ở trong và ngoài nước.
II/ NGHĨA VỤ
1. Đóng lệ phí gia nhập và hội phí hàng năm theo mức do Hội đồng quản trị  Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam qui định.
2. Nghiêm chỉnh thực hiện các nghị quyết của Đại hội và nghị quyết của Hội đồng quản trị  Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
3. Tích cực tham gia và thực hiện tốt phần nhiệm vụ của mình trong các hoạt động chung do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức.
4. Cung cấp đầy đủ những thông tin về hoạt động của mình theo định kỳ do Hội đồng quản trị Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam qui định hoặc khi được yêu cầu. 
5. Đoàn kết hợp tác với các tổ chức hội viên khác vì lợi ích chung của tập thể hội viên Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, hợp tác chặt chẽ với các tổ chức chuyên môn của Phòng, góp phần thúc đẩy công tác của Phòng càng phát triển, nâng cao uy tín và xây dựng Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ngày càng vững mạnh.   
Photo

Post has attachment
GIỚI THIỆU VCCI

Chính phủ
Số 123/2003/QĐ-TTg Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
____________________
Hà Nội, ngày 12 tháng 6 năm 2003
QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Về việc phê chuẩn Điều lệ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
_______
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
 Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét báo cáo kết quả Đại hội Đại biểu toàn quốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam lần thứ IV ngày 27 và 28 tháng 4 năm 2003;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
QUYẾT ĐỊNH
 Điều 1.: Phê chuẩn Điều lệ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam do Đại hội Đại biểu toàn quốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam lần thứ IV thông qua ngày 27 tháng 4 năm 2003.
Điều 2.: Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Quyết định số 315/TTg ngày 12 tháng 5 năm 1997.
Điều 3.: Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Văn phòng trung ương Đảng và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Viên Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Toà án nhân dân tối cao;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- Công báo;
- VPCP: BTCN, các PCN, các Vụ, Cục và các đơn vị trực thuộc;
- Lưu TCCB (5b), VT. Thủ tướng Chính phủ
(Đã ký)



Phan Văn Khải


Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam
---- Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------------------------------------------

ĐIỀU LỆ
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
(Đã được Đại hội Đại biểu toàn quốc Phòng Thương mại và Công nghiệp
Việt Nam lần thứ IV thông qua ngày 27 tháng 4 năm 2003 và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 123/2003/TTg ngày 12  tháng 6 năm 2003)
 I. ĐIỀU KHOẢN CHUNG
Điều 1. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (dưới đây có thể gọi tắt là Phòng) là tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, người sử dụng lao động và các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam nhằm mục đích phát triển, bảo vệ và hỗ trợ các doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và khoa học - công nghệ giữa Việt Nam với các nước trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi.
Điều 2. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam là tổ chức độc lập, phi chính phủ, phi lợi nhuận, có tư cách pháp nhân và tự chủ về tài chính.
Điều 3. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đặt trụ sở tại Hà Nội, Thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và có các chi nhánh, văn phòng đại diện ở trong và ngoài nước.
Điều 4. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hoạt động theo pháp luật Việt Nam và theo Điều lệ này, được sự hỗ trợ và chịu sự giám sát của Nhà nước Việt Nam.
II. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ
Điều 5. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có những chức năng sau:
1. Đại diện để thúc đẩy và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng  của cộng đồng doanh nghiệp và người sử dụng lao động ở Việt Nam trong các quan hệ trong nước và quốc tế;
2. Thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp, doanh nhân, sự  liên kết giữa các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, xúc tiến và hỗ trợ các hoạt động thương mại, đầu tư, hợp tác khoa học - công nghệ và các hoạt động kinh doanh khác của các doanh nghiệp ở Việt Nam và nước ngoài.
Điều 6. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có những nhiệm vụ sau:
1. Tập hợp, nghiên cứu ý kiến của các doanh nghiệp để phản ánh, kiến nghị và tham mưu cho Nhà nước các vấn đề về pháp luật, chính sách kinh tế - xã hội nhằm cải thiện môi trường kinh doanh;
2. Tham gia xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, tham dự các hội nghị, các đoàn đàm phán về kinh tế và thương mại phù hợp với qui định của Nhà nước;
3. Tổ chức các diễn đàn, đối thoại, các cuộc tiếp xúc giữa doanh nghiệp, người sử dụng lao động với các cơ quan Nhà nước, với đại diện người lao động và với các tổ chức hữu quan khác ở trong và ngoài nước để trao đổi thông tin và ý kiến về các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp và môi trường kinh doanh;
4. Tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của doanh nghiệp và người sử dụng lao động trong các quan hệ kinh doanh trong nước và quốc tế;
5. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, nâng cao trách nhiệm xã hội, đạo đức và văn hóa kinh doanh, xây dựng quan hệ lao động thuận hòa, bảo vệ môi trường và tham gia các hoạt động xã hội khác phù hợp với mục tiêu của Phòng;
6. Tập hợp và liên kết với các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam, hợp tác với các Phòng thương mại và công nghiệp, các tổ chức hữu quan khác ở nước ngoài, tham gia các tổ chức khu vực và quốc tế phù hợp với mục đích của Phòng và giúp đỡ các doanh nghiệp tham gia hoạt động trong các tổ chức đó;
7. Tiến hành các hoạt động xây dựng, quảng bá và nâng cao uy tín doanh nghiệp, doanh nhân, hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam; thúc đẩy các dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh doanh; hỗ trợ doanh nghiệp phát triển quan hệ kinh doanh và đầu tư ở trong và ngoài nước thông qua các biện pháp như: chắp mối và giới thiệu bạn hàng, cung cấp thông tin, hướng dẫn và tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu, khảo sát thị trường, hội thảo, hội nghị, hội chợ, triển lãm, quảng cáo và các hoạt động xúc tiến khác;
8. Tổ chức đào tạo bằng những hình thức thích hợp để phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp, giúp các doanh nhân nâng cao kiến thức, năng lực quản lý và kinh doanh;
9. Giúp đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam và ở nước ngoài;
        10. Cấp giấy chứng nhận xuất xứ cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam và chứng thực các chứng từ cần thiết khác trong kinh doanh; xác nhận các trường hợp bất khả kháng;
        11. Giúp các doanh nghiệp trong và ngoài nước giải quyết bất đồng, tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải hoặc trọng tài; phân bổ tổn thất chung khi có yêu cầu;
        12. Thực hiện những công việc khác mà Nhà nước Việt Nam hoặc các tổ chức khác uỷ thác.
III. HỘI VIÊN
Điều 7. Các tổ chức và cá nhân tán thành Điều lệ của Phòng, tự nguyện tham gia và được Ban Thường trực hoặc Hội đồng quản trị của Phòng chấp nhận hoặc mời, đều có thể trở thành hội viên của Phòng.
Phòng có 4 loại hội viên sau đây:
- Hội viên chính thức là các doanh nghiệp, các tổ chức sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động, các hiệp hội doanh nghiệp có đăng ký và hoạt động hợp pháp ở Việt Nam.
- Hội viên liên kết là các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp có đăng ký và hoạt động hợp pháp ở nước ngoài, có quan hệ thương mại với Việt Nam hoặc có văn phòng đại diện của họ tại Việt Nam.
- Hội viên thông tấn là những chuyên gia và tổ chức chuyên môn ở trong và ngoài nước có khả năng giúp thực hiện các nhiệm vụ của Phòng.
- Hội viên danh dự là những cá nhân có đóng góp đặc biệt vào việc thực hiện mục đích của Phòng.
Điều 8. Ban Thường trực của Phòng xét và quyết định công nhận hội viên chính thức, hội viên liên kết và mời các tổ chức và cá nhân làm hội viên thông tấn.
Trường hợp bị từ chối, đương sự có thể khiếu nại lên Hội đồng quản trị hoặc Đại hội. Quyết định của Đại hội là quyết định cuối cùng.
Theo đề nghị của Ban thường trực, Hội đồng quản trị bầu hội viên danh dự của Phòng.
Điều 9. Các tổ chức, cá nhân được coi là hội viên của Phòng kể từ khi được chấp nhận gia nhập và nộp đủ phí gia nhập.
Điều 10. Tư cách hội viên sẽ không còn giá trị nếu xảy ra một trong những trường hợp sau:
1. Bị đình chỉ hoặc chấm dứt hoạt động;
2. Giải thể hoặc phá sản;
3. Chết hoặc bị kết án;
4. Theo quyết định của Ban Thường trực do một trong những nguyên nhân sau:
a. Không thực hiện đúng hoặc vi phạm nghiêm trọng những quy định, nghị quyết của Phòng;
b. Hoạt động trái với mục đích của Phòng, gây tổn hại đến uy tín hoặc tài chính của Phòng.
Đương sự bị tước tư cách hội viên theo Điều 10.4 có quyền khiếu nại lên Hội đồng quản trị hoặc Đại hội. Quyết định của Đại hội là quyết định cuối cùng.
Điều 11. Pháp nhân mới được thành lập trên cơ sở sáp nhập nhiều hội viên hoặc chia tách, đổi mới hoặc sắp xếp lại doanh nghiệp, đã là hội viên của Phòng, nếu không có yêu cầu khác, đương nhiên là hội viên của Phòng
Hội viên của các hiệp hội doanh nghiệp, thành viên của các doanh nghiệp có thể trở thành hội viên của Phòng nếu tự nguyện gia nhập và được Ban Thường trực chấp nhận.
Điều 12. Hội viên có những quyền sau:
1. Tham dự hội nghị hội viên ở các khu vực;
2. Tham dự Đại hội Đại biểu toàn quốc nếu được bầu;
3. Biểu quyết hoặc bỏ phiếu ở Đại hội nếu là hội viên chính thức;
4. Được đề cử hoặc ứng cử vào Hội đồng quản trị của Phòng nếu là hội viên chính thức, hội viên thông  tấn;
5. Đề đạt ý kiến với Đại hội, Hội đồng quản trị, Ban Thường trực về hoạt động của Phòng và những vấn đề về chính sách, pháp luật kinh tế và môi trường kinh doanh;
6. Yêu cầu Phòng giúp đỡ, được hưởng dịch vụ của Phòng với điều kiện ưu đãi;
7. Thôi là hội viên của Phòng nếu xét thấy không thể hoặc không muốn tiếp tục tham gia.
Trường hợp hội viên tự nguyện thôi làm hội viên của Phòng thì phải hoàn thành các nghĩa vụ đóng hội phí tới thời điểm đó và gửi văn bản thông báo cho Ban Thường trực.
Điều 13. Hội viên có những nghĩa vụ sau:
1. Đóng phí gia nhập và hội phí theo quy định của Hội đồng quản trị. Hội viên thông tấn và Hội viên danh dự không phải đóng phí;
2. Thực hiện nghị quyết, quyết định của Đại hội và Hội đồng quản trị;
3. Tham dự các cuộc họp do Hội đồng quản trị triệu tập hoặc mời;
4. Cung cấp các thông tin, tài liệu, ý kiến phục vụ việc thực hiện các chức năng của Phòng;
5. Đoàn kết, hợp tác với các hội viên khác để cùng thực hiện mục đích của Phòng.
IV. TỔ CHỨC QUẢN LÝ
Điều 14. Các cơ quan lãnh đạo của Phòng gồm:
- Đại hội Đại biểu toàn quốc (gọi tắt là Đại hội);
- Hội đồng quản trị;
- Ban thường trực;
- Ban kiểm tra.
Điều 15. Đại hội là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Phòng.
Đại hội bao gồm các đại biểu do hội nghị hội viên các khu vực bầu. Số lượng và cơ cấu đại biểu do Hội đồng quản trị quyết định  theo tỷ lệ hội viên ở các khu vực.
Điều 16. Đại hội có 2 loại: Đại hội thường kỳ và Đại hội bất thường.
Đại hội thường kỳ do Hội đồng quản trị triệu tập 5 năm một lần để giải quyết các vấn đề sau:
1. Thông qua báo cáo hoạt động của Phòng trong nhiệm kỳ qua;
2. Quyết định chiến lược, phương hướng và nhiệm vụ hoạt động của Phòng trong nhiệm kỳ tới;
3. Quyết định sửa đổi hoặc bổ sung Điều lệ của Phòng;
4. Bầu Hội đồng quản trị;
5. Thảo luận và quyết định các vấn đề khác về công tác của Phòng và của các hội viên.
Đại hội bất thường được triệu tập bất kỳ thời gian nào theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc theo đề nghị của trên 1/2 số hội viên để giải quyết những vấn đề về tổ chức và hoạt động của Phòng vượt quá thẩm quyền của Hội đồng quản trị.
Điều 17. Khi triệu tập Đại hội thường kỳ, Hội đồng quản trị phải công bố chương trình nghị sự, quyết định về số lượng và cơ cấu đại biểu và hướng dẫn hội viên bầu đại biểu ít nhất là 30 ngày trước ngày Đại hội.
Các hội viên tiến hành bầu đại biểu và thông báo cho Hội đồng quản trị ít nhất là 15 ngày trước ngày Đại hội.
Việc triệu tập Đại hội bất thường và chương trình nghị sự phải được công bố ít nhất là 15 ngày trước ngày Đại hội. Đại biểu Đại hội bất thường là những đại biểu được bầu đi dự Đại hội thường kỳ ngay trước đó.
 
Điều 18. Nghị quyết Đại hội được thông qua theo đa số đại biểu có mặt.
          Riêng những vấn đề đặc biệt quan trọng dưới đây thì phải biểu quyết theo 2/3 số đại biểu có mặt và số đó phải trên 1/2 tổng số đại biểu được bầu đi dự Đại hội:
a. Sửa đổi hoặc bổ sung Điều lệ;
b. Xét công nhận hội viên mới đã bị Hội đồng quản trị từ chối nếu đương sự yêu cầu;
  c. Xét, giải quyết khiếu nại việc khai trừ hội viên theo quy định tại Điều 10.4.
  d. Giải thể và thanh lý tài sản của Phòng.
 
  Điều 19. Hội đồng quản trị là cơ quan do Đại hội bầu ra để lãnh đạo mọi hoạt động của Phòng trong thời gian giữa hai kỳ Đại hội. Tổng số thành viên của Hội đồng quản trị do Đại hội quyết định, trong đó bảo đảm phải có ít nhất 3/4 số thành viên là đại diện hội viên chính thức của Phòng.
 Hội đồng quản trị gồm:
 - Chủ tịch;
 - Các Phó Chủ tịch;
 - Tổng thư ký;
 - Các uỷ viên.
 Chủ tịch, các Phó chủ tịch và Tổng thư ký của Hội đồng quản trị là Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Tổng thư ký của Phòng, có cùng nhiệm kỳ của Đại hội.
Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là 5 năm. Thành viên của Hội đồng quản trị có thể bị miễn nhiệm trước thời hạn theo quyết định của Đại hội bất thường hoặc theo đề nghị của trên 1/2 số hội viên chính thức.
Trong trường hợp thành viên Hội đồng quản trị nghỉ hưu, bị đình chỉ công tác hoặc vì lý do khác không thể tiếp tục nhiệm vụ thì hội viên là pháp nhân có thành viên đó có quyền đề cử người khác thay thế và phải thông báo cho Chủ tịch Hội đồng quản trị trong vòng 30 ngày sau khi xảy ra tình huống trên. Nếu pháp nhân có thành viên đó không đề cử người thay thế trong thời gian trên, Ban Thường trực sẽ đề cử người thay thế. Người được cử thay thế chỉ được công nhận là thành viên Hội đồng quản trị với sự chấp thuận của ít nhất 2/3 số thành viên Hội đồng quản trị.
Các thành viên Hội đồng quản trị có quyền tham dự, đề cử, ứng cử, biểu quyết và bỏ phiếu tại Đại hội kỳ tiếp liền sau.
Điều 20. Hội đồng quản trị có những nhiệm vụ sau:
1. Nghiên cứu và đề ra những công việc và biện pháp cần thiết để thực hiện Nghị quyết của Đại hội;
2. Quyết định chương trình công tác và kế hoạch ngân sách hàng năm của Phòng, quy định mức phí gia nhập, hội phí và cách thu phí;
3. Quyết định cơ cấu tổ chức của Phòng; quyết định thành lập các uỷ ban chuyên ngành, chuyên đề và các tổ chức bên cạnh Phòng;
4. Bầu Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký, cử Ban Thường trực và Ban kiểm tra của Phòng;
5. Giám sát hoạt động của Ban thường trực và các tổ chức bên cạnh Phòng;
6. Chuẩn bị nội dung và các vấn đề tổ chức cho Đại hội thường kỳ và bất thường;
7. Quyết định mời các tổ chức, cá nhân tham gia các uỷ ban của Hội đồng quản trị và tổ chức bên cạnh Phòng, bầu các cá nhân làm hội viên danh dự của Phòng.
8. Giải quyết các khiếu nại theo qui định tại Điều 8 và Điều 10.4;
9. Xem xét những ý kiến, kiến nghị của hội viên, chuẩn bị những thông tin, kiến nghị gửi tới các cơ quan Nhà nước và các tổ chức khác.
Điều 21. Hội đồng quản trị họp ít nhất 6 tháng một lần do Chủ tịch Hội đồng quản trị gửi giấy triệu tập trước ít nhất 15 ngày. Các quyết định của Hội đồng quản trị được lấy biểu quyết theo đa số thành viên có mặt và số đó phải quá 1/2 số thành viên Hội đồng quản trị. Trong trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định thuộc về phía ý kiến của Chủ tịch Hội đồng quản trị. Riêng việc triệu tập Đại hội bất thường phải có sự nhất trí của ít nhất 2/3 số thành viên Hội đồng quản trị.
Hội đồng quản trị, căn cứ Điều lệ và Nghị quyết Đại hội, quy định quy chế hoạt động và phân công nhiệm vụ cho các thành viên.
Điều 22. Chủ tịch là người đại diện cho Phòng và Hội đồng quản trị, chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Phòng. Chủ tịch đồng thời là người đứng đầu Ban thường trực.
Các Phó Chủ tịch là người giúp Chủ tịch điều hành chung và được Chủ tịch phân công trách nhiệm trong một số lĩnh vực công tác cụ thể. Phó Chủ tịch Thường trực thay mặt Chủ tịch lãnh đạo Phòng khi Chủ tịch đi vắng.
         Tổng thư ký là người giúp Chủ tịch điều phối hoạt động của các cơ quan chuyên trách, các tổ chức trực thuộc Phòng và được Chủ tịch phân công phụ trách một số lĩnh vực công tác cụ thể.
Điều 23. Ban thường trực do Hội đồng Quản trị cử gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và ủy viên Ban Thường trực.  Ban Thường trực là cơ quan thường trực của Hội đồng Quản trị, trực tiếp lãnh đạo, điều hành cơ quan Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các tổ chức trực thuộc. Ban Thường trực có những nhiệm vụ sau:
1. Tổ chức thực hiện những công việc do Hội đồng quản trị đề ra;
2. Xây dựng và điều hành các cơ quan chuyên trách và các tổ chức trực thuộc để giải quyết những công việc thường xuyên của Phòng. Bổ nhiệm và bãi nhiệm các Phó tổng thư ký, lãnh đạo các cơ quan chuyên trách và giám đốc các tổ chức trực thuộc của Phòng;
3. Chuẩn bị nội dung cho các cuộc họp của Hội đồng quản trị;
4. Đề xuất với Hội đồng quản trị việc mời các tổ chức và cá nhân tham gia các uỷ ban, tổ chức do Hội đồng quản trị thành lập; đề xuất để Hội đồng quản trị bầu hội viên danh dự của Phòng.
5. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Hội đồng Quản trị uỷ nhiệm.
Ban Thường trực có nhiệm vụ báo cáo trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện nhiệm vụ công tác của mình.
Quy chế hoạt động của Ban thường trực do Hội đồng quản trị quyết định.
Điều 24. Ban kiểm tra gồm một số thành viên của Hội đồng quản trị do Hội đồng quản trị cử với nhiệm kỳ 5 năm. Ban kiểm tra bầu Trưởng ban để điều hành công việc của Ban.
Ban kiểm tra có nhiệm vụ kiểm tra tư cách đại biểu tham dự Đại hội; kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết của Đại hội, của Hội đồng quản trị, Ban Thường trực; kiểm tra về tài chính và báo cáo kết quả kiểm tra trước Hội đồng quản trị và trước Đại hội.
Quy chế hoạt động của Ban kiểm tra do Hội đồng quản trị quyết định.
V. TÀI CHÍNH
Điều 25. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có tài sản và ngân sách riêng và hoạt động theo chế độ tự chủ về tài chính.
Điều 26. Ngân sách của Phòng hình thành từ các nguồn sau:
1. Phí gia nhập và hội phí do hội viên đóng góp;
2. Các khoản thu từ hoạt động của Phòng và các tổ chức trực thuộc và bên cạnh Phòng;
3. Ngân sách Nhà nước hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ được Nhà nước giao;
4. Các hoạt động gây quĩ, tài trợ, đóng góp của các hiệp hội, doanh nghiệp, các tổ chức khác và cá nhân trong và ngoài nước.
Điều 27. Phòng sử dụng ngân sách của mình cho những việc sau:
1. Chi hoạt động của Phòng;
2. Chi tiền lương, các chi phí về cơ sở vật chất và hoạt động của các cơ quan chuyên trách, các tổ chức trực thuộc và bên cạnh Phòng;
3. Đầu tư mở rộng hoạt động ở trong và ngoài nước phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của Phòng theo quy định của pháp luật.
Điều 28. Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam  chịu trách nhiệm quản lý tài sản và ngân sách của Phòng.
VI. ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG
Điều 29. Việc giải thể Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam do Đại hội quyết định và phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn.
Điều 30. Điều lệ này đã được Đại hội đại biểu toàn quốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam lần thứ IV thông qua ngày 27 tháng 04 năm 2003 và có hiệu lực sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Chủ tịch
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam


Vũ Tiến Lộc
Photo

Post has attachment
VCCI SẴN SÀNG HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP TRUNG QUỐC KHI HỢP TÁC TẠI VIỆT NAM
(DĐDN) – Đây là khẳng định của ông Phạm Quang Thịnh – Phó Ban Quan hệ Quốc tế – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc”, vừa diễn ra sáng nay (12/1/2016) tại Hà Nội.
Diễn đàn do VCCI và Hiệp hội Doanh nghiệp ưu tú Trung Quốc toàn Thế giới tổ chức.
Ông Phạm Quang Thịnh – Phó Ban Quan hệ Quốc tế – VCCI phát biểu tại Diễn đàn
Phát biểu tại Diễn đàn, ông Phạm Quang Thịnh khẳng định: Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, núi sông liền một dải, có quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời. Trong những năm qua, dưới sự nỗ lực của hai bên, kim ngạch thương mại song phương không ngừng phát triển. Từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc 10 năm liền là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Trung Quốc là thị trường xuất khẩu số 1 của Việt Nam về các mặt hàng: máy tính và linh kiện, cao su thiên nhiên, than và gạo.
Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, năm 2015, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt – Trung đạt gần 60,5 tỷ USD, tăng 14% so với năm 2014. Trong đó Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 45 tỷ USD tăng 13,8% so với năm 2014; Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 15,5 tỷ USD tăng 14,6% so với năm 2014. Việt Nam nhập siêu 29,5 tỷ USD tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2014.
Toàn cảnh “Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc”
Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc các mặt hàng chủ yếu như Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; Xơ, sợt dệt các loại; rau quả, sắn và các sản phẩm từ sắn, dầu thô, than đá, cao su, gạo, rau hoa quả, thủy hải sản….và nhập khẩu từ Trung Quốc máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, linh kiện điện tử, máy ảnh, máy quay phim và linh kiện, may mặc, sắt thép, phân bón…
Về đầu tư, tính đến hết 2015 số dự án Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam còn hiệu lực là 1284 dự án, tổng vốn đầu tư 10 tỷ USD, đứng thứ 9 trong tổng số 105 quốc gia và vùng lnahx thổ đầu tư vào Việt Nam.
“Đến cuối năm 2015 khu mậu dịch tự do Asean – Trung Quốc đã chính thức được thực hiện liên quan đến 7000 mặt hàng với thuế quan 0%. Trong thời gian tới khi hiệp định TPP được phê chuẩn hoàn toàn, Việt Nam với lợi thế về vị trí địa lý và cấu trúc kinh tế năng động đang trở thành một trong những trung tâm thương mại và là cửa ngõ đi vào thị trường rộng lớn của các nước ASEAN và của Thế giới” – ông Thịnh nói.
Các doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc tham dự Diễn đàn
Cũng theo ông Thịnh, “Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc” có ý nghĩa đặc biệt, nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau. Các doanh nghiệp Trung Quốc có mặt hôm nay kinh doanh trong các lĩnh vưc: Bất động sản, vật liệu xây dựng, sản xuất điện, nông sản, nhựa, hóa chất, xuất nhập khẩu tổng hợp, đầu tư dự án….mong muốn hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam. Hội nghị hôm nay là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp hai bên tăng cường giao lưu, tìm hiểu thị trường, gặp gỡ tiếp xúc trực tiếp với nhau.
“VCCI là tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, người sử dụng lao động và các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam nhằm mục đích phát triển, bảo vệ và hỗ trợ các doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và khoa học – công nghệ giữa Việt Nam với các nước trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi. VCCI hoan nghênh các doanh nghiệp Trung Quốc đến tìm hiểu thị trường, tìm cơ hội hợp tác đầu tư thương mại, chuyển giao công nghệ…đồng thời chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ các quí vị doanh nghiệp trong quá trình hợp tác tại Việt Nam”. – ông Thịnh Khẳng định.


Doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc chia sẻ, tìm kiếm cơ hội hợp tác
Tại Diễn đàn, ông Zhang Shuai – Trưởng đoàn Hiệp hội ưu tú Trung Quốc toàn Thế giới bày tỏ mong muốn trong quá trình làm việc, các doanh nghiệp hai nước sẽ trao đổi về hợp tác cũng như tìm hiểu về thị trường của hai bên
“Trung Quốc là một nền kinh tế lớn và là thị trường lớn. Các doanh nghiệp Trung Quốc sang Việt Nam hợp tác không chỉ tham dự vào sự phát triển của Việt Nam mà còn là một cầu nối phát triển kinh tế lớn. Thông qua diễn đàn này, các doanh nghiệp Trung Quốc hi vọng có thể đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam. Sự hợp tác giữa hai doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp haii nước mà còn đảm bảo bảo vệ môi trường và lợi ích xã hội của hai bên”.- ông Zhang Shuai nói.
Tại diễn đàn, đại diện các doanh nghiệp Trung Quốc và Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực sản xuất đèn tín hiệu giao thông, chiếu sáng, xuất nhập khẩu gỗ và nông sản, hóa chất, khoáng sản, nông nghiệp… đã chia sẻ thông tin tình hình sản xuất kinh doanh; cùng mong muốn tìm hiểu và đầu tư, phát triển kinh doanh tại địa bàn mỗi nước; đồng thời đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu suất thông quan hàng hóa.
Hải Minh (Báo Diễn đàn DN)

PhotoPhotoPhotoPhotoPhoto
19/02/2016
5 Photos - View album

Post has attachment
GIA NHẬP TPP, VIỆT NAM ĐƯỢC HƯỞNG LỢI NHẤT


Hiệp định Thương mại đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng vừa đại diện cho Việt Nam ký kết chính thức vào sáng ngày 4/2 tại New Zealand được nhận định sẽ mở ra những cơ hội lớn cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao kim ngạch xuất khẩu, nhưng đồng thời cũng đặt ra một loạt các thách thức mới cho Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí trước khi sang New Zealand tham gia lễ ký Hiệp định TPP về các biện pháp nhằm vượt qua thách thức để tận dụng các lợi thế mà Hiệp định này mang lại.

Về các nội dung cam kết chung trong TPP và các thỏa thuận song phương khác giữa Việt Nam với từng nước thành viên TPP, Bộ trưởngVũ Huy Hoàng cho biết: Trong ba tháng vừa qua, bên cạnh các cam kết chung đạt được trong TPP, Việt Nam đã đạt được thêm một số thỏa thuận song phương với một số nước thành viên TPP mà các thỏa thuận này có tác động quan trọng với một số lĩnh vực mà Việt Nam đang đàm phán.

Cụ thể, Việt Nam đã đạt được: Thỏa thuận song phương về dệt may với Hoa Kỳ, đạt được am kết của một số nước để tiến tới xem xét công nhận cơ chế kinh tế thị trường của Việt Nam, thỏa thuận của Việt Nam với Australia về việc tăng thêm thời gian lao động cho các thể nhân có điều kiện làm việc tại Australia. Các thỏa thuận thêm này có tác động tích cực giúp cho việc thực thi Hiệp định TPP của phía Việt Nam.

Về nhận định cho rằng trong số 12 nước thành viên, Việt Nam sẽ được hưởng lợi nhiều nhất và sẽ có mức tăng trưởng cao nhất về GDP và xuất khẩu khi Hiệp định TPP có hiệu lực, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cho rằng ý kiến này không sai. Bộ trưởng phân tích, các nước TPP thống nhất với nhau Hiệp định TPP là hiệp định thế hệ mới, chất lượng cao và mục đích là cân bằng lợi ích giữa các nước tham gia trên cơ sở có tính đến sự chênh lệch trình độ phát triển giữa các nước. Nếu so sánh với các nước thành viên TPP, quy mô nền kinh tế của Việt Nam còn nhỏ, trình độ phát triển còn thấp.

Vì vậy khi đàm phán, ký kết và thực thi Hiệp định TPP, rất nhiều nghiên cứu của các tổ chức trong và ngoài nước đều cho rằng Việt Nam là nước được hưởng lợi nhiều nhất qua thực thi TPP, nhất là trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, thu hút dịch vụ và đầu tư.

Tuy nhiên, theo Bộ trưởng, giữa lý thuyết và thực tế còn phụ thuộc rất nhiều vào việc Việt Nam sẽ tranh thủ khai thác các lợi thế trong TPP và ứng phó với các thách thức khó khăn như thế nào. Chỉ khi Việt Nam có được các giải pháp phù hợp thì lợi thế tiềm năng mới trở thành hiện thực và các khó khăn mới có thể giải quyết được.

Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cũng nhận định, những mặt hàng xuất khẩu mà Việt Nam có lợi ích cốt lõi như dệt may, da giày, nông sản, thủy sản sẽ có cơ hội tăng trưởng rất lớn khi TPP có hiệu lực. Tính toán thì cho nhiều kết quả khác nhau và còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thực thi Hiệp định nhưng bước đầu cho thấy Dệt may, da giày có thể tăng trưởng ít nhất 20%.

Với nông sản, thủy sản thì có thể tăng trưởng thấp hơn một chút vì xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường TPP, trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản cũng đã khá lớn nên nếu muốn tăng trưởng với tốc độ cao hơn thì doanh nghiệp thủy sản phải đáp ứng được các yếu tố như mở rộng diện tích nuôi trồng, quan tâm tới chất lượng của sản phẩm, nhất là các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm, về kiểm dịch.

Nếu các yếu tố này không được đáp ứng tốt thì kim ngạch xuất khẩu không những khó cải thiện mà còn bị chính các rào cản thương mại này kìm hãm. Tuy nhiên, nhìn tổng thể, nếu doanh nghiệp làm tốt công tác đảm bảo chất lượng và thực thi nghiêm túc các quy định trong TPP thì đây sẽ là những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng kim ngạch cao nhất trong số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Nói về các giải pháp hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp và doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì để vượt qua thách thức, tận dụng hiệu quả nhất TPP, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cho biết, khi trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007 cũng như khi thực hiện một loạt cam kết trong khung khổ các hiệp định thương mại tự do khác, các doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước chuẩn bị về mặt tâm lý, điều kiện để có thể khai thác được các lợi thế do WTO và các hiệp định thương mại tự do mang lại. Các doanh nghiệp cũng đã có các giải pháp để ứng phó với thách thức, tận dụng cơ hội.

Vì vậy, khi tham gia TPP, các doanh nghiệp Việt Nam ít nhiều cũng đã có sự chuẩn bị, qua đó có thể rà soát các điều kiện để có thể xây dựng các bước đi, chiến lược để khai thác lợi thế, ứng phó với khó khăn, cũng như có điều kiện để tái cơ cấu, sắp xếp lại sản xuất của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, với một số lĩnh vực thì doanh nghiệp Việt Nam cũng đã phải đương đầu với thách thức từ trước đó rồi. Ví dụ như trong lĩnh vực ôtô, cơ khí, bán buôn, bán lẻ, một số lĩnh vực dịch vụ. Còn nếu thực thi TPP, một số lĩnh vực, trong đó có chăn nuôi có thể gặp khó khăn lớn do năng suất lao động của Việt Nam còn thấp, phương thức sản xuất còn nhỏ lẻ phân tán, chi phí sản xuất còn khá cao và khả năng tham gia vào chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu còn hạn chế.

Vì vậy, đây là một trong những lĩnh vực rất khó khăn với Việt Nam. Vì thế, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ trong đàm phán TPP, Bộ Công Thương và các bộ ngành liên quan đã thỏa thuận với các nước trong TPP một lộ trình phù hợp để khi kết thúc lộ trình đó, Việt Nam mới phải thực hiện hoàn toàn các cam kết. Còn trong lộ trình đó, Việt Nam sẽ có các bước điều chỉnh dần dần và phù hợp. Đây chính là một biện pháp để bảo vệ sản xuất trong nước.

Tuy nhiên, do thời gian bảo hộ này chỉ có hạn và nếu hết thời gian này Việt Nam vẫn không có giải pháp phù hợp thì khả năng cạnh tranh của Việt Nam vẫn sẽ kém. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp ngay từ bây giờ phải có các biện pháp, kế hoạch để phát huy thế mạnh, tập trung vào các sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế hơn. Sau khi thời gian bảo hộ hết, doanh nghiệp có thể đứng vững được và cạnh tranh hiệu quả với các sản phẩm của các nước TPP.

Ở khía cạnh vĩ mô, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước, các Bộ ngành liên quan cần nghiên cứu để đưa ra được các bộ tiêu chuẩn, các tiêu chí để vừa đảm bảo chất lượng sản phẩm được phép lưu thông tại Việt Nam và ngăn chặn các sản phẩm không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào Việt Nam, qua đó, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam vươn lên.

Cuối cùng, một biện pháp rất quan trọng chính là làm tốt công tác tuyên truyền để cộng động doanh nghiệp nắm bắt thật kỹ càng các nội dung của TPP, qua đó nhận biết được các cơ hội lợi thế cần khai thác triệt để cũng như các thách thức để có biện pháp ứng phó phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Photo

Post has attachment
ĐÓN ĐẦU TPP: ĐẦU TƯ VIỆT NAM- HOA KỲ TĂNG MẠNH


Đón đầu Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đầu tư hai chiều Việt Nam- Hoa Kỳ gia tăng mạnh mẽ trong thời gian gần đây.

Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), những tháng cuối năm 2015 đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng mạnh. Cụ thể, có 40 dự án của các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại 15 quốc gia thì có tới 9 dự án đầu tư tại Hoa Kỳ với tổng số vốn đạt 50,6 triệu USD, chiếm hơn 25% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Ở chiều ngược lại, đầu tư của các doanh nghiệp Hoa Kỳ vào Việt Nam cũng gia tăng mạnh mẽ trong thời gian gần đây. Riêng trong tháng 1/2016, các doanh nghiệp Hoa Kỳ đã đầu tư vào Việt Nam 8 dự án đăng ký mới với tổng số vốn cấp mới và tăng thêm đạt gần 20 triệu USD. Tính đến thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp Hoa Kỳ đã đầu tư tại Việt Nam 788 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt gần 11 tỷ USD, xếp thứ 8/110 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam.

Các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào Hoa Kỳ tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, công nghệ chế biến, chế tạo. Trong khi đó, đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam tập trung vào các lĩnh vực tài chính, dịch vụ giáo dục, công nghiệp.

Theo ông Ted Osius- Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam: Ngoài lý do môi trường đầu tư tại Việt Nam đang được cải thiện tích cực nhờ những chính sách mới trong thu hút đầu tư và Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư sửa đổi, thì TPP là tác nhân quan trọng tạo ra triển vọng thu hút đầu tư giữa Việt Nam- Hoa Kỳ. Theo đó, TPP sẽ tạo ra nhiều việc làm và hỗ trợ tăng trưởng đối với cả Việt Nam và Hoa Kỳ. TPP chứa đựng những tiêu chuẩn cao về lao động và các cam kết lớn về môi trường, các quy tắc mới về các doanh nghiệp nhà nước và khuôn khổ về sở hữu trí tuệ,... tạo ra một môi trường đầu tư minh bạch và hấp dẫn.

Bà Sherry Boger- Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam nhận định: Đến năm 2020, Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình, với môi trường đầu tư và thương mại thịnh vượng cho cả nhà đầu tư nội và ngoại. Môi trường pháp lý chặt chẽ, minh bạch, hợp lý, giúp nhà đầu tư có thể tiếp cận Việt Nam với chi phí tối thiểu và điều kiện thuận lợi nhất. Đây là những lợi thế giúp Việt Nam hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp Hoa Kỳ.

Mặc dù cơ hội hút vốn từ các doanh nghiệp Hoa Kỳ đang rất lớn, song bà Sherry Boger cũng cho rằng, một số chính sách vẫn làm ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của Việt Nam. Cụ thể như việc cấm nhập khẩu thiết bị và máy móc cũ hơn 10 năm đang là một “rào cản” đối với nhà đầu tư muốn đến Việt Nam. Vì vậy, việc cải thiện môi trường kinh doanh vẫn là việc cần thiết để Việt Nam thu hút FDI.

Photo

Post has attachment
CHÍNH THỨC KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG-TPP

Sáng 4/2, tại thành phố Auckland, New Zealand, dưới sự chứng kiến của Thủ tướng nước chủ nhà John Key, Bộ trưởng Thương mại và Kinh tế của 12 nước thành viên tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã đặt bút ký vào văn bản này, đánh dấu việc các nước chính thức hoàn tất toàn bộ quá trình đàm phán để có thể bắt đầu thủ tục phê chuẩn tại mỗi nước.

Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng đại diện cho Việt Nam tham gia lễ ký TPP tại Auckland.

Phát biểu khai mạc lễ ký, Thủ tướng John Key cho rằng TPP giúp tự do hóa thương mại và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giao thương trên khắp khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và về tổng thể sẽ mang lại những lợi ích tốt nhất cho tất cả 12 nước thành viên cũng như công dân các nước này.

Sau lễ ký này, mỗi nước có thời gian 2 năm để thực hiện các quy trình nội bộ, hoàn tất thủ tục phê chuẩn tại Quốc hội để TPP có hiệu lực.

Thỏa thuận này sẽ chỉ có hiệu lực khi được ít nhất 6 nước thành viên, chiếm tối thiểu 85% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) kết hợp của cả 12 nước, phê chuẩn.

Điều này có nghĩa là thỏa thuận phải được Quốc hội tại hai nền kinh tế lớn nhất trong TPP là Mỹ và Nhật Bản thông qua.

TPP là thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia (bao gồm Canada, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Australia, Mỹ, Nhật Bản và Việt Nam), được hình thành với mục tiêu chính là xóa bỏ các loại thuế quan và rào cản hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên.

Ngoài ra, TPP sẽ còn thống nhất nhiều luật lệ, quy tắc chung giữa các nước này, như sở hữu trí tuệ, chất lượng thực phẩm, hay an toàn lao động…

Hiệp định bao gồm 30 chương và đề cập đến không chỉ các lĩnh vực truyền thống như hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà còn cả các vấn đề mới như thương mại điện tử, tạo thuận lợi cho dây chuyền cung ứng, doanh nghiệp nhà nước.

Một khi có hiệu lực, TPP sẽ trở thành khu vực thương mại tự do với 800 triệu dân, chiếm 30% kim ngạch thương mại toàn cầu và gần 40% sản lượng kinh tế thế giới.

Quá trình đàm phán TPP được khởi động từ tháng 3/2010.

Qua 19 phiên đàm phán chính thức, 5 phiên cấp Bộ trưởng, việc đàm phán TPP đã hoàn tất vào tháng 10/2015 và chỉ sau đó 1 tháng, toàn văn hiệp định đã được công bố.

Từ đó đến nay, các nước không thay đổi các nội dung đàm phán đã được thống nhất mà chỉ điều chỉnh một số nội dung kỹ thuật trên cơ sở ý kiến rà soát của các chuyên gia pháp lý.

Những điều chỉnh này nhằm đảm bảo nội dung được đưa ra ký kết chính thức phù hợp hơn với quy định pháp lý quốc tế cũng như quy định trong nước của các nước TPP, không ảnh hưởng đến bản chất nội dung đã cam kết.

Photo

Post has attachment
ƯỚC VỌNG MỘT QUỐC GIA KHỞI NGHIỆP
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và chia sẻ rủi ro cho các DN và dự án kinh doanh được thành lập trên cơ sở đổi mới sáng tạo.
Chúng ta bước vào năm 2016 với nhiều cơ hội mở ra từ hội nhập, nhưng gánh nặng cũng đè lên vai cả các cơ quan Nhà nước và cộng đồng DN.
Cải cách chưa đáp ứng kỳ vọng DN
Năm 2015 kết thúc với những thành tích ấn tượng, ghi nhận những nỗ lực của Chính phủ để ổn định kinh tế vĩ mô và khôi phục đà tăng trưởng. Cộng đồng DN cũng đánh giá cao việc bước đầu triển khai thực hiện Luật DN, Luật Đầu tư mới và Nghị quyết 19/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Nghị quyết 36a/NQ-CP về thực hiện Chính phủ điện tử… Đây là những đột phá quan trọng.
Cộng đồng DN cũng ghi nhận những chuyển động tích cực, mạch lạc và đúng hướng đang được bắt đầu ở một số bộ, ngành và địa phương. Chúng ta hoan nghênh những nỗ lực cải cách thủ tục hành chính ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, nỗ lực cổ phần hóa DNNN và xã hội hóa dịch vụ công ở Bộ Giao thông - Vận tải… Đó là những thực tiễn tốt cần được nhân rộng.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất vẫn là đổi mới thể chế. Muốn tránh được bẫy thu nhập trung bình và trở nên giàu mạnh thì phương cách duy nhất là tiếp tục kiên định đổi mới, đẩy mạnh cải cách thể chế, quyết liệt hội nhập. Nhưng không chỉ Chính phủ mà cả DN cũng phải đổi mới tư duy.

Khu vực DNNVV trong nước vẫn đang đứng ngoài chuỗi giá trị toàn cầu
Cải cách thể chế nhìn chung đã đạt được kết quả tích cực, nhưng vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của DN. Sự phối hợp và tính đồng bộ, nhất quán giữa các bộ, ngành, địa phương và các cấp hành chính vẫn chưa đạt yêu cầu, đang là các điểm nghẽn cần được giải tỏa.
Các cuộc khảo sát gần đây của VCCI về cải cách thủ tục hành chính, nhất là trong lĩnh vực thuế và hải quan, cho thấy một tín hiệu đáng lo ngại là: DN tư nhân càng lớn thì chi phí tuân thủ thủ tục hành chính càng cao; DN quy mô càng lớn và kinh doanh càng thành công thì bị thanh tra, kiểm tra càng nhiều.
Đây là một lực cản đáng kể để các DN không lớn lên được và quy mô bình quân của DN Việt Nam đang nhỏ dần đi theo các số liệu thống kê công bố gần đây. Chúng tôi đề nghị có biện pháp khắc phục việc này.
Cũng liên quan đến môi trường kinh doanh, chúng tôi quan niệm một môi trường kinh doanh lành mạnh không phải chỉ là môi trường kinh doanh thuận lợi mà còn là một môi trường kinh doanh an toàn. Sự yếu kém của các thiết chế pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của DN trong kinh doanh đang là một trong những điểm quan ngại hàng đầu của DN hiện nay.
Sự chậm trễ, hiện tượng oan sai trong xét xử, việc hình sự hóa các quan hệ kinh tế và hiệu lực thi hành các phán quyết của tòa án không nghiêm, hiện tượng không công nhận và toà án huỷ các phán quyết trọng tài khá tùy tiện… đang phát đi những tín hiệu không tốt về môi trường kinh doanh lành mạnh.
Do vậy, song hành với cải cách hành chính, cải cách tư pháp cần phải là một trọng tâm cải thiện môi trường kinh doanh sắp tới.
Việt Nam - quốc gia khởi nghiệp
Điều rất đáng khích lệ với cộng đồng DN là trong năm 2015, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần khẳng định chúng ta không thể giành thắng lợi trên mặt trận kinh tế nếu không có toàn dân làm kinh tế. Và mặc dù bức tranh chung của nền kinh tế là tích cực, nhưng điểm nghẽn đáng quan ngại nhất của phát triển lại là khu vực giữ vai trò động lực - khu vực tư nhân trong nước.
Nói một cách hình ảnh, nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập, nhưng khu vực kinh tế tư nhân trong nước vẫn “cô đơn” trong nền kinh tế, không thay đổi được điều này thì khu vực kinh tế tư nhân sẽ không trở thành động lực của phát triển.

Năm 2016, kinh tế tư nhân tiếp tục là động lực phát triển kinh tế
Trong khi DNNN đã có những tiến bộ nhất định, đã có độ lùi cần thiết nhường dư địa cho khu vực kinh tế khác, thì tiếc thay, DNNN lùi đến đâu là FDI tiến lên đến đấy, mà quy mô DN tư nhân thì vẫn vậy. Vì thế, 10 năm nay tỷ trọng của DN tư nhân trong nền kinh tế vẫn giữ như thế.
Lý do là, chính sách hỗ trợ phát triển khu vực này vẫn chưa đủ mạnh. Chưa có sự lan tỏa, cắm rễ sâu vào kinh tế địa phương của các FDI. Khu vực DNNVV trong nước vẫn đang đứng ngoài chuỗi giá trị toàn cầu và nếu có tham gia thì cũng chỉ vào công đoạn sử dụng nhiều nhân công tay nghề thấp và giá rẻ.
Sự yếu kém của công tác giáo dục nghề nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực đang là một nguyên nhân quan trọng dẫn tới hiện trạng trên. Công nghệ thì DN có thể mua, nhưng quản trị và tay nghề của người lao động thì phải học. Đưa nội dung dạy nghề vào trường phổ thông và tạo ra đột phá trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp chính là chìa khóa để Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu và sáng tạo ra các chuỗi giá trị mới.
Vì vậy, cần có biện pháp đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác công tư, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này, hướng tới xây dựng một hệ thống các trường và trung tâm đào tạo nghề đạt chuẩn quốc tế với bằng cấp của Việt Nam được công nhận rộng rãi trên thế giới. Đây là yêu cầu quan trọng nhất của hội nhập sau yêu cầu hội nhập về thể chế.
“Thách thức lớn nhất vẫn là đổi mới thể chế. Muốn tránh được bẫy thu nhập trung bình và trở nên giàu mạnh thì phương cách duy nhất là tiếp tục kiên định đổi mới, đẩy mạnh cải cách thể chế, quyết liệt hội nhập. Nhưng không chỉ Chính phủ mà cả DN cũng phải đổi mới tư duy”.
Chúng ta đang kỳ vọng vào sự phát triển mạnh mẽ hơn của DN tư nhân để lấp được khoảng trống mà DNNN đã lùi ra, để trở thành động lực tăng trưởng nhưng chúng tôi cũng mong tạo động lực phát triển cho kinh tế tư nhân. Phải ưu tiên phát triển kinh tế tư nhân, người dân là yếu tố quyết định sự thành bại của nền kinh tế, đây là nội lực mang tính quyết định. Về phần Nhà nước là tạo điều kiện, hạ tầng, ban hành luật lệ, điều rất quan trọng để cổ vũ tinh thần khởi nghiệp, làm giàu của người dân.
Năm 2016 sẽ là năm tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô và lấy lại đà tăng trưởng và thừa nhận kinh tế tư nhân là động lực thì sẽ là thông điệp thúc đẩy toàn dân làm kinh tế. Đây sẽ là lĩnh vực hoạt động chủ yếu của người Việt Nam. Với động lực cải cách trong nước và cơ hội rất to lớn từ các FTA, chúng ta có thể huy động nhiều nguồn lực hơn cho phát triển cả trong nước và ngoài nước. Việt Nam sẽ bắt đầu một chu kỳ phát triển mới, mạnh mẽ và bền vững hơn…
Để nâng cao chất lượng DN thành lập mới trong nền kinh tế Việt Nam, đề nghị Chính phủ có Chương trình quốc gia về khởi nghiệp. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và chia sẻ rủi ro cho các DN và dự án kinh doanh được thành lập trên cơ sở đổi mới sáng tạo. Mô hình các vườn ươm DN, quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần… nên được nghiên cứu triển khai rộng khắp để hỗ trợ cho phong trào khởi nghiệp đặc biệt là trong lớp trẻ, đưa Việt Nam thành một quốc gia khởi nghiệp.
Ông Lê Diệp, Giám đốc Vietcombank Đà Nẵng
Đã có sự chuẩn bị cho thời kỳ hội nhập

Khi TPP có hiệu lực, bên cạnh những thuận lợi, TPP cũng đặt ra không ít thách thức, đặc biệt với ngành đặc thù và nhạy cảm như ngân hàng. Việc gia nhập TPP, các NHTM phải tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về quản trị hoạt động, quản trị rủi ro.
Đồng thời, nâng cao tính minh bạch, tính tự chịu trách nhiệm của hệ thống để đáp ứng yêu cầu của hội nhập và thực hiện các cam kết, qua đó nâng cao hiệu quả điều hành trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Khi hội nhập đòi hỏi môi trường pháp lý phải được cải thiện để thực hiện các cam kết quốc tế, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, khuyến khích các luồng vốn chảy vào trong nước thông qua đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Riêng Vietcombank Đà Nẵng vấn đề này đã có sự chuẩn bị từ nhiều năm trước. Đó là sự chuẩn bị khá kỹ càng về công tác nhân sự có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đảm bảo đáp ứng nhu cầu khi hội nhập. Đặc biệt, chi nhánh đã tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ nhân viên thành thạo về các phương thức giao dịch theo chuẩn quốc tế và ứng dựng công nghệ ngân hàng hiện đại, sẵn sàng bước vào thời kỳ hội nhập.
Ông Nguyễn Quốc Tuấn, Tổng giám đốc Công ty Giày Vinh Thông:
DN cần trang bị kiến thức cho mình

Với kim ngạch xuất khẩu trung bình hàng năm trên 10 triệu USD và chủ yếu xuất đi 28 nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), việc Việt Nam hội nhập sâu rộng vào TPP thực sự đã mở ra cơ hội lớn cho Vinh Thông nói riêng và nhiều DN trong ngành hàng da giày xuất khẩu nói chung.
Thực tế, từ trước đến nay EU luôn là thị trường truyền thống và trọng tâm đối với các DN may mặc, giày da, túi xách. Việc bỏ thuế suất (0%) dự kiến sẽ giúp các DN gia tăng đơn hàng, lợi nhuận và mở rộng thị trường sang nhiều nước châu Âu, Mỹ, Nhật... Dự kiến, sản lượng hàng hóa xuất khẩu có thể tăng ít nhất từ 50 – 100% so với kim ngạch hiện tại.
Tuy nhiên, chắc chắn song hành cùng với những thuận lợi sẽ là không ít khó khăn thách thức, nhất là rào cản kỹ thuật của các nước nhập khẩu rất khắt khe đòi hỏi DN phải tự nâng cao trình độ và vượt qua.
Bên cạnh đó, mỗi quốc gia lại có những quy định cụ thể riêng, nếu DN xuất khẩu không nắm chắc rất dễ vướng kiện tụng, mất thị trường. Một trong những yếu điểm của các DN Việt Nam là hiểu biết về luật pháp, đặc tính của thị trường các nước còn khá hạn chế vì vậy khi “đem chuông đi đánh xứ người” mà không am hiểu luật chơi sẽ dễ thất bại.
Điều này đòi hỏi đã tham gia sân chơi lớn thì DN dù lớn hay nhỏ, trong bất cứ lĩnh vực ngành nghề nào cũng cần trang bị cho mình kiến thức, khả năng thích nghi, vươn lên để đứng vững và làm chủ thị trường.
Ông Trần Ngọc Liêm, Phó Giám đốc VCCI tại TP. Hồ Chí Minh:
Liên kết tạo sức mạnh, nắm bắt cơ hội

Đến nay các chủ trương, chính sách khi Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã cơ bản hoàn chỉnh và chỉ 1-2 năm nữa sẽ được triển khai thực thi, phát huy tác dụng. Có thể nói, TPP đã tạo ra lại cơ hội lớn cho các DN Việt Nam, đặc biệt đối với các DN hoạt động trong lĩnh vực thương mại, xuất khẩu.
Đối với các quốc gia hội nhập TPP, trong đó có Việt Nam sẽ phải có sự thay đổi, điều chỉnh chính sách sao cho phù hợp và điều này tạo môi trường thuận lợi, minh bạch để các DN phát huy tối đa khả năng của mình. Từ đó có cơ hội nâng cao năng lực, chất lượng hàng hóa sản phẩm, sức cạnh tranh với các DN nước ngoài.
Tuy nhiên, với đặc thù của các DN nội với quy mô vừa và nhỏ, năng lực kinh nghiệm còn nhiều hạn chế nếu không có sự chuẩn bị kỹ càng cũng như thay đổi để thích nghi, các DN sẽ rất dễ bị đào thải bởi phải chịu sức ép, sự cạnh tranh ngay trên sân nhà với nhiều đối thủ mạnh.
Ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch HĐQT Đồng Tâm Group:
Cần phòng vệ cho hàng hóa Việt

Khi hội nhập, cơ hội luôn đi đôi với thách thức. Bởi thực tế cho thấy, DN Việt có quy mô sản xuất nhỏ, đầu tư manh mún, chưa chú trọng xây dựng thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng, môi trường làm việc, an toàn lao động… Trong khi đó, quy trình quản lý, bán hàng, tiếp thị còn thiếu chuyên nghiệp, cạnh tranh yếu so với hàng hóa nhập từ nước ngoài.
Sự thiếu minh bạch trong kinh doanh cũng có thể khiến DN Việt đối mặt với khó khăn. Đơn cử vừa qua, trên thị trường xuất hiện một số DN vì cái lợi ích trước mắt đã nhập hàng hóa kém chất lượng từ nước ngoài rồi gắn nhãn mác hàng Việt để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ngược. Đây là điều rất nguy hiểm, làm mất lòng tin của người tiêu dùng, ảnh hưởng đến thương hiệu hàng hóa của DN Việt.
Vì vậy khi hội nhập, vai trò của các hiệp hội DN là rất quan trọng. Hiệp hội có vai trò kết nối, giúp chia sẻ thông tin, hạn chế các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, giúp thống kê, xây dựng các tiêu chí xuất khẩu, tận dụng lợi thế ưu đãi gia nhập cuộc chơi hội nhập để DN cạnh tranh một cách công bằng.
Ông Huỳnh Văn Tân, Chủ tịch HĐQT CTCP Thép Dana - Ý:
DN đã sẵn sàng

Từ năm 2016, hàng loạt các hiệp định thương mại đã được Việt Nam ký kết với các nước; các cộng đồng kinh tế, sẽ được thông qua và có hiệu lực. Dẫn đến, kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ bước sang giai đoạn mới, giai đoạn của sự hội nhập sâu rộng với thương trường quốc tế. Khi đó, “quả bóng” của DN Việt không những lăn ở “sân” nhà mà có thể lăn trên “sân” của nhiều quốc gia và ngược lại. Cuộc chơi này vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với DN Việt.
Vì vậy, để giữ vững phong độ cạnh tranh với các “cầu thủ” ngoại, đòi hỏi DN phải có sự chuẩn bị chu đáo về năng lực tài chính, năng lực quản trị, nguồn nhân lực… Trong đó, quan trọng là phải có chiến lược phát triển dài hạn của mỗi DN để thích ứng với thị trường.
Đối với Dana – Ý, xác định hội nhập là không thể tránh khỏi, nên trong hơn 2 năm qua, DN đã chủ động đầu tư đổi mới công nghệ phục vụ hoạt động sản xuất. Chúng tôi đã đầu tư hơn 800 tỷ đồng để nâng cấp dây chuyền cán và luyện thép, có tổng công suất 400 nghìn tấn/năm. Đây là dây chuyền công nghệ châu Âu, tiết kiệm nguồn năng lượng và đảm bảo môi trường.
Những thay đổi trên, giúp DN thích ứng với điều kiện thị trường, khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu. Do đó, Dana – Ý rất tự tin và sẵn sàng hội nhập.
TS. Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Photo
Photo
19/02/2016
2 Photos - View album

Post has attachment
MỘT LỘ TRÌNH MỚI KHÔNG THỂ CƯỠNG LẠI
(Chinhphu.vn) - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc nhận định trong năm 2015, chúng ta đã giành thắng lợi toàn diện trên lĩnh vực kinh tế với tăng trưởng GDP ở mức cao, đà cải cách được đẩy mạnh và Việt Nam vượt lên trước từ 5-7 năm so với nhiều nước trong khu vực về tốc độ hội nhập. Trên cơ sở đó, đã bắt đầu một lộ trình mới tốt đẹp hơn và không thể cưỡng lại.
Báo điện tử Chính phủ xin giới thiệu ý kiến của Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc - đại diện cộng đồng doanh nghiệp về tình hình kinh tế-xã hội năm 2015 và cơ hội cũng như thách thức của kinh tế Việt Nam trong thời gian tới, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.

Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc
Ba dấu ấn nổi bật
Cách đây vài ngày, VCCI đã khởi động cuộc bình chọn các quy định pháp luật tốt nhất và tồi nhất. Đây là hoạt động chủ động của VCCI nhằm triển khai nhiệm vụ được Chính phủ giao tại Nghị quyết 19, đó là hiến kế, giám sát, thúc đẩy, khảo sát các cuộc điều tra xã hội để đo lường sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp về cơ chế, chính sách. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng chỉ rõ, mọi văn bản được ban hành liên quan đến doanh nghiệp đều phải lấy ý kiến của VCCI.
Chưa bao giờ tiếng nói của doanh nghiệp được quan tâm như hiện nay. Chính phủ đã có rất nhiều cố gắng và tinh thần chung là lạc quan hơn trước. Tôi cho rằng năm 2015, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ, chúng ta đã giành thắng lợi toàn diện trên lĩnh vực kinh tế, trong đó có 3 dấu ấn nổi bật nhất.
Dấu ấn nổi bật đầu tiên là kinh tế vĩ mô tiếp tục được ổn định và củng cố vững chắc hơn, trong khi đà tăng trưởng đã phục hồi, dự kiến khoảng 6,5%, một mức cao so với khu vực và thế giới trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động. Khu vực doanh nghiệp tiếp tục phát triển, phần lớn vẫn trụ vững được trong cạnh tranh, nhiều doanh nghiệp và doanh nhân khẳng định được vị thế, được đánh giá cao ở khu vực và cả quốc tế.
Dấu ấn tiếp theo là sự khởi động của làn sóng cải cách thứ hai, dưới không gian hiến định mới mà Hiến pháp năm 2013 đã mở ra. Theo đó, quyền tự do kinh doanh của người dân chỉ có thể bị hạn chế bởi luật, điều này rất quan trọng. Trong năm 2015, Chính phủ đã tiếp tục những đột phá về cải cách thể chế kinh tế mà những mốc quan trọng là việc thực thi Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và việc ban hành, triển khai Nghị quyết số 19/NQ-CP lần thứ hai về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trong đó đặt rõ những nhiệm vụ trọng tâm và lộ trình cụ thể cho cải cách.
Lần đầu tiên, Chính phủ có kế hoạch cụ thể, tích cực trong việc thu hẹp khoảng cách về quản trị, điều hành kinh tế với các nước ASEAN, mà một số chỉ tiêu quan trọng theo thông lệ quốc tế phải ngang tầm 4 nước dẫn đầu ASEAN. Và phải khẳng định rằng chúng ta đã thành công bước đầu trong các lĩnh vực thuế, hải quan, thành lập doanh nghiệp.
Mới đây, Chính phủ lại tiếp tục ban hành Nghị quyết số 36a về Chính phủ điện tử. Có thể nói Nghị quyết 19 và Nghị quyết 36a này sẽ có tác động cộng hưởng, thay đổi căn bản phương thức hoạt động của các cơ quan nhà nước, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Một thành công đặc biệt quan trọng khác là Chính phủ đã kết thúc đàm phán, ký kết hàng loạt hiệp định thương mại tự do với các đối tác hàng đầu với những chuẩn mực hàng đầu thế giới. Việt Nam trở thành điểm giao thoa của những hiệp định thương mại lớn nhất, quan trọng nhất thế giới đầu thế kỷ 21. Với các hiệp định này, chúng ta đã đi trước nhiều nước trong khu vực từ 5 đến 7 năm. Để so sánh, cần nhớ rằng Việt Nam là người đi sau trong WTO. Chúng ta đang ở thời điểm rất quan trọng khi quyết tâm cải cách trong nước và nỗ lực hội nhập quốc tế đang song hành, cộng hưởng để tạo đà cho làn sóng đổi mới lần thứ hai.
Bên cạnh thành tựu ổn định vĩ mô và khôi phục đà tăng trưởng thì việc mở ra một giai đoạn mới về cải cách thể chế, dù mới ở giai đoạn đầu, là thành quả quan trọng nhất của nền kinh tế trong năm 2015. Nói một cách hình ảnh thì Nghị quyết 19 tạo động lực cải cách một cách tự nguyện, còn với các FTA thì cải cách như một cam kết buộc phải thực hiện. Chúng ta vẫn liên tục nói về cải cách, về đổi mới nhưng nay chúng ta đã có công nghệ để cải cách, đằng sau làn sóng cải cách thể chế hiện nay là những chuẩn mực, công nghệ quốc tế. Những thành quả cải cách này sẽ có tác động, ảnh hưởng lâu dài và bền vững tới nền kinh tế Việt Nam.
Một chu kỳ phát triển mới
Năm 2016 sẽ là năm tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô và lấy lại đà tăng trưởng. Với động lực cải cách trong nước và cơ hội rất to lớn từ các FTA, chúng ta có thể huy động nhiều nguồn lực hơn cho phát triển cả trong nước và ngoài nước. Việt Nam sẽ bắt đầu một chu kỳ phát triển mới, mạnh mẽ và bền vững hơn.
Riêng với đầu tư nước ngoài, khi Việt Nam đang đi trước các nước khu vực và trở thành giao điểm của các FTA, chắc chắn sẽ có sự bùng nổ một làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam. Chúng ta sẽ chứng kiến một cuộc dịch chuyển các chuỗi giá trị từ các nước nằm ngoài TPP hay các FTA vào Việt Nam. Ví dụ, chúng ta đã nói đến rất nhiều về công nghiệp phụ trợ cho công nghiệp ô tô, TPP sẽ là cơ hội để thúc đẩy ngành này. Tương tự như vậy là công nghiệp phụ trợ với dệt may, da giày… Điều quan trọng là làm sao để khu vực tư nhân trong nước có thể song hành cùng khu vực FDI và cùng hưởng lợi từ các FTA.
Thách thức lớn nhất của chúng ta vẫn là đổi mới thể chế. Muốn tránh được bẫy thu nhập trung bình và trở nên giàu mạnh thì phương cách duy nhất là tiếp tục kiên định đổi mới, đẩy mạnh cải cách thể chế, quyết liệt hội nhập, trên cơ sở đường lối của Đảng, Hiến pháp năm 2013 và chương trình hành động rất tích cực, cụ thể của Chính phủ. Nếu trong thời gian ngắn nhất chúng ta đạt được chuẩn mực thế giới về thể chế, về quản trị, thì Việt Nam sẽ có được một đội ngũ doanh nghiệp hùng mạnh- lực lượng chủ công để chúng ta hội nhập, vượt lên thành công.
Xét về lĩnh vực, nông nghiệp là đáng lo ngại nhất. Nền nông nghiệp Việt Nam về cơ bản vẫn là sản xuất tiểu nông, chưa theo các chuẩn mực quốc tế. Sản xuất manh mún, nhỏ lẻ khiến chi phí cao, năng suất thấp và khó bảo đảm an toàn thực phẩm. Nền nông nghiệp như vậy không thể sản xuất hàng hóa, càng không thể cạnh tranh. Chúng ta xuất khẩu nhiều gạo nhưng chưa có thương hiệu. Trước kia, cá tra, cá basa và tôm của Việt Nam đã bước đầu chiếm lĩnh được các thị trường cao cấp ở Mỹ, châu Âu, nhưng đang đứng trước nguy cơ mất uy tín ở các thị trường này, đang chuyển sang những thị trường dễ tính hơn và cũng thấp cấp hơn.
Nông nghiệp sẽ là lợi thế của Việt Nam trong hội nhập, với điều kiện phải là nền nông nghiệp công nghệ cao. Điều tất yếu là chúng ta phải tái cấu trúc nền nông nghiệp, phải tổ chức lại sản xuất trên cơ sở những điều kiện về thổ nhưỡng, khí hậu, lao động và vị trí địa lý. Yêu cầu tương tự cũng đặt ra với ngành du lịch.
Hội nhập là thách thức với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam cũng có sức sống rất bền bỉ, khả năng ứng phó rất cao. Nhà nước tạo đột phá về thể chế thì doanh nghiệp cũng phải tự nâng cấp để trở thành các đối tác tin cậy trên thê giới. Ngược lại, để hỗ trợ cho những nỗ lực tự thân của doanh nghiệp, rất cần một chương trình của Nhà nước để trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Điều rất đáng khích lệ với cộng đồng doanh nghiệp là trong năm 2015, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần khẳng định, chúng ta không thể giành thắng lợi trên mặt trận kinh tế nếu không có toàn dân làm kinh tế. Phải ưu tiên phát triển kinh tế tư nhân, người dân là yếu tố quyết định sự thành bại của nền kinh tế, đây là nội lực mang tính quyết định. Về phần Nhà nước là tạo điều kiện, hạ tầng, ban hành luật lệ, đây là điều rất quan trọng để cổ vũ tinh thần khởi nghiệp, làm giàu của người dân.
Tôi tin rằng một lộ trình tốt đẹp hơn đang bắt đầu và điều quan trọng là lộ trình ấy không thể cưỡng lại được.
Hà Chính (Báo Chính Phủ)

Photo
Wait while more posts are being loaded