Ảnh bìa hồ sơ
Ảnh hồ sơ
PRL LOGISTICS CO.,LTD
25 người theo dõi -
YOU ARE IN GOOD SERVICE !
YOU ARE IN GOOD SERVICE !

25 người theo dõi
Giới thiệu
Bài đăng

Cảnh báo nguy cơ Việt Nam trở thành “điểm đến” của phế liệu


Bài 2: Ngăn chặn phế liệu nhập khẩu, phải bắt đầu từ chính sách

-Để ngăn chặn phế liệu NK, các cơ quan chức năng, trong đó có cơ quan Hải quan phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khi hệ thống chính sách quản lý hoạt động này còn nhiều bất cập.





Thiếu quy chuẩn, Hải quan khó quản lý

Theo quy định tại Điều 76 Luật Bảo vệ môi trường thì phế liệu NK từ nước ngoài vào Việt Nam phải đáp ứng Quy chuẩn kỹ thuật môi trường và thuộc Danh mục phế liệu được phép NK do Thủ tướng Chính phủ quy định tại Quyết định 73/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ (có 36 mã hàng hóa chủ yếu là phế liệu nhựa, sắt, thép, giấy được phép NK làm nguyên liệu sản xuất).

Cho đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường mới ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu là giấy, nhựa, sắt thép ban hành kèm theo Thông tư số 43/2010/TT-BTNMT ngày 29/12/2010. Các phế liệu khác thuộc Phụ lục Danh mục phế liệu được phép NK từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất ban hành kèm theo Quyết định số 73/2014/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ chưa có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.

Hiện nay, đối với các phế liệu chưa có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường khi NK thực hiện theo


một công văn hướng dẫn tạm thời về mô tả phế liệu, yêu cầu chất lượng và mục đích sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành. Theo Tổng cục Hải quan văn bản mô tả phế liệu, yêu cầu chất lượng và mục đích sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất nêu tại công văn không phải quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Do vậy, để thực hiện đúng quy định tại quy định tại Điều 76 Luật Bảo vệ môi trường, Tổng cục Hải quan tham mưu Bộ Tài chính đề xuất Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm ban hành Thông tư quy định các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với toàn bộ mặt hàng phế liệu trong Danh mục thuộc Quyết định số 73/2014/QĐ-TTg.
Không chỉ vậy, ngay cả việc cấp “Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong NK phế liệu làm nguyên liệu sản xuất” (sau đây gọi là Giấy xác nhận) chưa thống nhất cũng đang gây khó khăn cho cơ quan Hải quan.

Theo Cục Hải quan TP.HCM, Thông tư 41/2015/TT-BTNMT ngày 9/9/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc cấp Giấy xác nhận do một trong hai đơn vị cấp, gồm: Bộ Tài nguyên và Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường của các tỉnh/thành phố. Nhưng trên thực tế có tỉnh còn ủy quyền cho Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường của tỉnh cấp và trên Giấy xác nhận có nhiều mặt hàng phế liệu được cấp theo số lượng của từng mặt hàng cho nên gây khó khăn cho cơ quan Hải quan trong việc theo dõi số lượng phế liệu thực nhập với số lượng thực tế còn trên Giấy xác nhận.

Cần có chính sách hạn chế tiến tới cấm NK

Để kịp thời ngăn ngặn nguy cơ ô nhiễm môi trường và tháo gỡ tình trạng ùn ứ tại cảng biển, Bộ Tài chính kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát các hồ sơ xin cấp Giấy xác nhận, nhanh chóng cấp Giấy xác nhận trong trường hợp đủ điều kiện, trường hợp không đủ điều kiện thì yêu cầu DN thực hiện tái xuất lô hàng ra khỏi Việt Nam. Thông báo cho các DN kinh doanh cảng và cơ quan Hải quan danh sách các DN đủ điều kiện đã được cấp Giấy xác nhận và DN không đủ điểu kiện để cấp Giấy xác nhận. Đồng thời, quy định việc cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong NK phế liệu làm nguyên liệu sản xuất do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp (không phân cấp cho các Sở Tài nguyên và Môi trường) trên Cổng thông tin một cửa quốc gia. Qua đó, cơ quan Hải quan có cơ sở đối chiếu, tránh trường hợp làm giả, tẩy xóa, sửa đổi nội dung.

Bên cạnh đó, để tránh trường hợp DN lợi dụng khai sai tên hàng, mục đích sử dụng, mã số hàng hóa nhằm NK hàng hóa không bị điều chỉnh bởi chính sách NK phế liệu nhưng sau đó hàng hóa có thể sử dụng như phế liệu, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần hướng dẫn chi tiết hơn định nghĩa phế liệu nêu tại Khoản 16 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường. Đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần sớm nghiên cứu có hướng dẫn cụ thể hoặc ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật để cơ quan Hải quan có cơ sở so sánh, đối chiếu trong việc xác định hàng hóa là phế thải hay phế liệu, từ đó xác định việc áp dụng chính sách quản lý phù hợp.

Ngoài ra, trong báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính cũng đề nghị Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường có văn bản hướng dẫn các DN kinh doanh cảng kiểm tra Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong NK phế liệu làm nguyên liệu sản xuất trước khi cho hàng hóa dỡ xuống cảng. Trường hợp chủ hàng hoặc hãng tàu không xuất trình được Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong NK phế liệu làm nguyên liệu sản xuất thì không cho hàng hóa dỡ xuống cảng. Bộ Công Thương nghiên cứu việc xây dựng, công bố danh mục chi tiết hàng hóa đã qua sử dụng cấm NK đặc biệt là hàng tiêu dùng, hàng gia dụng bằng kim loại, nhựa, cao su, chất dẻo, giấy bìa và các chất liệu khác theo quy định tại Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ theo hướng hạn chế tối đa việc NK các hàng hóa đã qua sử dụng nêu trên để tránh trường hợp DN lợi dụng khai sai tên hàng, mục đích sử dụng, mã số hàng hóa nhằm NK hàng hóa không bị điều chỉnh bởi chính sách NK phế liệu nhưng sau đó hàng hóa có thể sử dụng như phế liệu.

Về lâu dài, Bộ Tài chính cho rằng, nhiều nước trên thế giới trong đó có các nước xung quanh Việt Nam đã có chính sách cấm NK mặt hàng phế liệu có nguy cơ ảnh hưởng môi trường; do vậy, cần có chính sách phù hợp để Việt Nam không trở thành nguy cơ là bãi rác của vùng cũng như thế giới. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương cần sớm nghiên cứu, đánh giá xây dựng chính sách quản lý nhằm siết chặt việc NK phế liệu, từng bước theo lộ trình có chính sách hạn chế tiến tới cấm NK phế liệu.

" ..
" Ông Phan Trí Dũng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cái Mép (Cục Hải quan Bà Rịa- Vũng Tàu): Giải pháp tạm thời chặn phế liệu không phép

Sau khi cảng Tân Cảng Cát Lái ngưng tiếp nhận các container phế liệu nhựa NK, cảng Tân Cảng Cái Mép cũng đưa ra nhiều quy định siết chặt phế liệu NK về cảng này. Theo đó, hiện nay tất cả các DN NK phế liệu về cảng Tân Cảng - Cái Mép đều phải cung cấp toàn bộ hồ sơ liên quan đến NK hàng để cơ quan Hải quan kiểm tra, xác nhận nếu đủ điều kiện NK. Sau đó, lãnh đạo cảng Tân Cảng - Cái Mép sẽ căn cứ vào xác nhận này, có văn bản gửi hãng tàu cho phép vận chuyển phế liệu về cảng. Như vậy, các hãng tàu bị ràng buộc trách nhiệm, nếu vận chuyển phế liệu cho các DN về cảng Tân Cảng - Cái Mép đều phải được sự đồng ý bằng văn bản của lãnh đạo cảng này.

Được biết, hiện nay, tại cảng Tân Cảng-Cái Mép đang ùn ứ khoảng 2.000 container phế liệu nhựa. Số phế liệu này do các DN NK có cảng đích là cảng Tân Cảng Cát Lái-TP.HCM được tàu cập cảng Tân Cảng- Cái Mép chờ chuyển về TP.HCM làm thủ tục nhận hàng. Tuy nhiên, do từ ngày 1/6/2018, Tân Cảng-Cát Lái ngưng tiếp nhận tiếp nhận mặt hàng phế liệu nên phế liệu ùn ứ tại cảng rất lớn.

Để xử lý đối với các container phế liệu ùn ứ tại cảng Tân Cảng - Cái Mép, theo lãnh đạo Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cái Mép, đơn vị đã yêu cầu giám sát chặt chẽ số phế liệu này. Đối với các container phế liệu đã về cảng Tân Cảng- Cái Mép, có cảng đích là cảng Tân Cảng-Cái Lái, DN muốn làm thủ tục nhận hàng tại cảng Tân Cảng- Cái Mép phải làm thủ tục điều chỉnh vận đơn, cơ quan Hải quan sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho DN nếu đủ các điều kiện NK theo quy định.


Ông Trần Tuấn Anh, Phó Giám đốc cảng Tân Cảng-Cái Mép: Cái Mép cũng xem xét ngừng tiếp nhận phế liệu nhựa NK trực tiếp về cảng

Sau khi cảng Tân Cảng Cát Lái ngưng tiếp nhận các container phế liệu nhựa NK, ngoài việc đưa ra các điều kiện phối hợp với cơ quan Hải quan kiểm tra kỹ, siết chặt mặt hàng phế liệu về cảng cảng Tân Cảng Cái Mép, chúng tôi cũng đang xem xét có thể cũng ngưng tiếp nhận các container hàng phế liệu nhựa NK trực tiếp về cảng.. "

(St.)


Thêm nhận xét...

Từ Hà Nội phát hiện 2 container hàng nhập khẩu vi phạm tại...Đà Nẵng
Thứ Tư, 11/07/2018 22:33 GMT+7

- Dù khoảng cách lên đến hàng trăm km nhưng nhờ hệ thống giám sát hải quan trực tuyến, lực lượng Hải quan kịp thời phát hiện, bắt giữ 2 lô hàng nhập khẩu có nhiều dấu hiệu vi phạm.


Theo nguồn tin của Báo Hải quan, đấu tháng 6/2018, quá trình trực ban, giám sát trực tuyến tại Phòng Giám sát Hải quan trực tuyến (tại trụ sở Tổng cục Hải quan), bộ phận trực ban (của Tổng cục Hải quan) vào thời điểm đó phát hiện 2 container (1 container 20 feet, 1 container 40 feet) do Công ty TNHH MTV Đắc Minh Hoàng đứng tên mở tờ khai nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng có nhiều dấu hiệu vi phạm.

Lập tức, bộ phận trực ban có công điện khẩn đề nghị Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng chuyển luồng kiểm tra thực tế toàn bộ lô hàng.

Theo khai báo của doanh nghiệp, hàng hóa nhập khẩu là nước lau kính, xe đẩy trẻ em, tã giấy trẻ em xuất xứ Nhật Bản.

Tuy nhiên, kết quả kiểm tra thực tế của cơ quan Hải quan cho thấy, chỉ có một số ít hàng hóa nhập khẩu đúng với khai báo, trong khi hầu hết hàng hóa trong 2 container không được khai báo hải quan, đáng chú ý trong đó có nhiều hàng hóa thuộc danh mục cấm nhập khẩu, hoặc nhập khẩu có điều kiện nhưng doanh nghiệp không có giấy phép...

“Đáng kể là có nhiều đồ điện tử, điện gia dụng, phụ tùng xe máy… đã qua sử dụng là những mặt hàng thuộc diện cấm nhập khẩu. Hoặc có nhiều loại thực phẩm chức năng, mỹ phẩm… là những mặt hàng thuộc diện quản lý chuyên ngành”- nguồn tin cho biết thêm.

Kết quả xác minh bước đầu cho thấy vụ việc có nhiều dấu hiệu vi phạm hình sự, các lực lượng chức năng của ngành Hải quan đang tiếp tục xác minh, điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

(St.)
Thêm nhận xét...

Bài đăng có tệp đính kèm
Thông tư số 23/2016/TT-BCT ngày 12/10/2016 đã bãi bỏ Thông tư số 37/2015/TT-BCT ngày 30/10/2015. Theo đó, hiện nay không quy định về mức giới hạn và việc kiểm tra hàm lượng formaldehyt và amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may.

Bộ Công thương đã ban hành Thông tư 21/2017/TT-BCT ngày 23 tháng 10 năm 2017 về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mức giới hạn hàm lượng FORMALDEHYT và các amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/5/2018
Thêm nhận xét...

Phế liệu nhập khẩu bắt buộc phải lấy mẫu kiểm định
Thứ Ba, 26/06/2018 16:15 GMT+7

Đây là một trong những chỉ đạo của Tổng cục Hải quan đối với các cục hải quan tỉnh, thành phố trong quản lý phế liệu NK.


Cụ thể, Tổng cục Hải quan chỉ đạo, đối với hàng hóa khai báo là phế liệu NK, khi thực hiện thủ tục hải quan, chi cục hải quan nơi đăng ký tờ khai hải quan phải lấy mẫu gửi Cục Kiểm định Hải quan để thực hiện việc phân tích đánh giá sự phù hợp quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với lô hàng phế liệu NK. Trong quá trình lấy mẫu phải chụp ảnh thực tế hàng hóa NK để lưu hồ sơ phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra.

Đối với hàng hóa khai báo là hàng đã qua sử dụng, không phân biệt mục đích sử dụng và có tên hàng, mã số hàng hóa không thuộc Phụ lục Danh mục phế liệu được phép NK từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất ban hành kèm theo Quyết định 73/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, có nghi vấn là phế liệu (ví dụ như: bao vì, màng nhựa, dây đai, bao jumbo, đồ nhựa, lưới đánh cá…) đã qua sử dụng khi thực hiện thủ tục hải quan, chi cục hải quan nơi đăng ký tờ khai hải quan phải lấy mẫu gửi Cục Kiểm định Hải quan để xác định hàng hóa NK có phải là phế liệu hay không.

Cùng với các giải pháp trên, giữa tháng 6/2018, Tổng cục Hải quan cũng đã có văn bản số 3428/TCHQ-GSQL (ngày 18/6) chỉ đạo cục hải quan các tỉnh, thành phố tăng cường quản lý phế liệu NK vào Việt Nam.

Các giải pháp tăng cường quản lý trước bối cảnh hoạt động NK phế liệu trong thời gian qua có diễn biến phức tạp, nguy cơ gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến môi trường sống.

Nguy cơ Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á có thể trở thành điểm đến của các mặt hàng là rác thải, phế liệu đã được cơ quan hải quan đưa ra cảnh báo từ đầu năm nay, khi từ đầu năm 2018, Trung Quốc thực hiện chính sách cấm NK rác thải, phế liệu từ nhựa, ni-lon.

(St.)
Thêm nhận xét...

Bài đăng có tệp đính kèm
Mặt hàng xe nâng NK được kiểm tra chất lượng bởi cơ quan đăng kiểm

-Bộ Giao thông vận tải sẽ tiếp tục giao cơ quan đăng kiểm thực hiện kiểm tra mặt hàng xe nâng NK, có mã HS 84.27, kể cả những đối tượng hàng hóa có sự trùng lặp mà Bộ Công Thương đã loại ra khỏi danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành khi NK.


Đây là thông báo của Bộ Giao thông vận tải gửi đến Tổng cục Hải quan để thống nhất việc kiểm tra chất lượng xe nâng NK.

Trước đó, một số đơn vị hải quan tỉnh, thành phố đã phản ánh vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện kiểm tra chất lượng mặt hàng xe nâng NK. Theo quy định tại Thông tư 39/2016/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải, mặt hàng xe nâng có mã HS 84.27 thuộc Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn phải kiểm tra chất lượng. Tuy nhiên, trên thực tế, Cục Đăng kiểm Việt Nam đã từ chối không kiểm tra chất lượng đối với một số mặt hàng xe nâng.

Để xử lý vấn đề này, Tổng cục Hải quan đã có văn bản đề nghị Bộ Giao thông vận tải làm rõ vướng mắc.

Lí giải về vấn đề này, Bộ Giao thông vận tải cho biết, hiện tại Bộ Giao thông vận tải đang thực hiện kiểm tra an toàn chất lượng và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng trong sản xuất, lắp ráp và NK. Xe nâng nói chung là một trong các mặt hàng trong danh mục sản phẩm hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Giao thông vận tải được quy định tại Thông tư 39/2016/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải, có mã HS là 84.27.

Trên thực tế, các loại xe nâng trong quá trình sử dụng đều có thể có nhu cầu tham gia giao thông (đối với loại có kết cấu có thể tham gia giao thông) để di chuyển giữa các địa điểm làm việc hoặc có tham gia vào các hoạt động logistics trong lĩnh vực giao thông vận tải (ví dụ: Tham gia xếp dỡ hàng hóa lên phương tiện tại các nhà ga, bến cảng, kho hàng…).

Giải thích về việc cơ quan đăng kiểm không thực hiện kiểm tra chất lượng đối với mặt hàng xe nâng, Bộ Giao thông vận tải cho biết trước đây, do có việc quy định đối tượng có mã HS giống nhau, trùng lặp trong văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Giao thông vận tải và Bộ Công Thương nên đã có một số loại xe nâng đều do hai bộ thực hiện kiểm tra chuyên ngành. Do có sự trùng lặp nên cơ quan đăng kiểm Bộ Giao thông đã chủ động không tiếp nhận kiểm tra các loại xe nâng nêu trên để tránh chồng chéo.

Tuy nhiên, tại các thông tư của Bộ Công Thương (gần đây nhất là Thông tư 33/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung mã số HS trong Danh mục han hành kèm theo Thông tư 29/2016/TT-BCT) đã loại bỏ mặt hàng xe nâng ra khỏi danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành.

Chính vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh XNK của DN cũng như công tác quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa là mặt hàng xe máy chuyên dùng có mã số HS 84.27 hiện đang được quy định tại Thông tư 39/2016/TT-BGTVT, Bộ Giao thông vận tải tiếp tục giao cơ quan đăng kiểm thực hiện kiểm tra hàng hóa NK có mã HS 84.27, kể cả những đối tượng hàng hóa có sự trùng lặp mà Bộ Công Thương đã loại ra khỏi danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành khi NK.

(St.)
Ảnh
Thêm nhận xét...

Bài đăng có tệp đính kèm
Các chi phí liên quan đến vận chuyển (CIC, D/O, VSC...)**

=>> Công chức Hải quan căn cứ hồ sơ thực tế để xem xét các khoản chi phí liên quan đến vận chuyển hàng hóa đến cửa khẩu nhập đầu tiên phải cộng hay không phải cộng.
(CV 3581/TCHQ-TXNK ngày 20/06/2018)
Ảnh
Ảnh
22/06/2018
2 ảnh - Xem album
Thêm nhận xét...

CÁC TRƯỜNG HỢP SỬA TỜ KHAI BỊ PHẠT VPHC.
VỪA TRẢ LỜI TRÊN BÁO HẢI QUAN.

Nguyễn Mạnh Hùng (GG VINA CO ., LTD) (Hải Phòng): Theo Điều 20, Thông tư 39 thì người khai hải quan được khai bổ sung (các tiêu chí được khai bổ sung) trước khi phân luồng, trong thông quan và sau thông quan, tuy nhiên với khai bổ sung trong thông quan (sau khai phân luồng và trước khi thông quan) doanh nghiệp sẽ bị xử phạt. Điều này có lẽ sẽ gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp. Và em có một số thắc mắc như sau:
+ Những tiêu chí nào sẽ bị xử phạt khi khai bổ sung? những tiêu chí nào không bị xử phạt khi khai bổ sung? (căn cứ theo nghị định 45 thì không phải tiêu chí nào khai bổ sung cũng bị phạt, nhưng cộng đồng logistic đang rất lo lắng về vấn đề này)
+ Về vấn đề khai bổ sung tên hàng, và các chi tiết của hàng hóa thì mỗi chi cục và mỗi công chức tiếp nhận hồ sơ đều không có sự thống nhất về cách quản lý đối với cùng một mặt hàng, vậy nếu doanh nghiệp theo hướng dẫn của công chức A và khai bổ sung nhưng đến hồ sơ lô sau lại phải theo hướng dẫn của công chức B. những trường hợp khai bổ sung như thế này thì có bị phạt không ạ? (hàng gia công, sản xuất xuất khẩu không chịu thuế)
+ Khai bổ sung các chi tiết, diễn giải về hàng hóa (tên hàng không sai, nhưng thiếu một số phần chi tiết thêm) thì có bị phạt không? Em cám ơn!


Quyền Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan Âu Anh Tuấn:

Việc xử phạt VPHC trong việc khai sửa đổi bổ sung tờ khai theo quy định tại Điều 20 Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi bổ sung tại khoản 9 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC thực hiện theo quy định tại Nghị định số 127/2013/NĐ-CP sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 45/2016/NĐ-CP.

Theo đó các trường hợp khai bổ sung có hành vi vi phạm được quy định cụ thể tại các văn bản nêu trên mới bị xử lý theo quy định. Đề nghị doanh nghiệp nghiên cứu để thực hiện.

Cụ thể, chỉ những hành vi liên quan đến khai sai quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị định 45/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 127/2013/NĐ-CP thì mới bị xử phạt, chi tiết như sau:

“Điều 7. Vi phạm quy định về khai hải quan

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không khai hoặc khai sai so với thực tế về tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, xuất xứ hàng hóa là hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không khai hoặc khai sai so với thực tế về tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá, xuất xứ hàng hóa thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Hàng hóa từ nước ngoài vào khu phi thuế quan hoặc từ khu phi thuế quan ra nước ngoài;
b) Hàng hóa quá cảnh, chuyển khẩu, hàng hóa từ nước ngoài vào cảng trung chuyển hoặc từ cảng trung chuyển ra nước ngoài;
c) Hàng hóa sử dụng, tiêu hủy trong khu phi thuế quan.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không khai hoặc khai sai so với thực tế về tên hàng, chủng loại, xuất xứ, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, đối tượng không chịu thuế theo quy định của pháp luật.

4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi khai báo hàng hóa nhập khẩu theo loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu nhưng không có cơ sở sản xuất hàng gia công, cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu.

5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi khai khống về tên hàng, số lượng, trọng lượng, trị giá hàng hóa xuất khẩu; trừ hàng hóa xuất khẩu là sản phẩm gia công, sản phẩm sản xuất xuất khẩu, sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài của doanh nghiệp chế xuất, hàng kinh doanh tạm nhập - tái xuất.

6. Vi phạm quy định tại Khoản 3, Khoản 4, Khoản 5 Điều này dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, được hoàn, không thu hoặc gian lận, trốn thuế thì xử phạt theo Điều 8 hoặc Điều 13 Nghị định này.
“Điều 8. Vi phạm quy định về khai thuế
Người nộp thuế có hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu thì ngoài việc nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp theo quy định còn bị xử phạt như sau:
1. Phạt 10% số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu thuế cao hơn so với quy định của pháp luật về thuế đối với một trong các hành vi vi phạm sau:
a) Trường hợp người nộp thuế tự phát hiện và khai bổ sung hồ sơ khai thuế quá 60 (sáu mươi) ngày, kể từ ngày thông quan hàng hóa nhưng trước khi cơ quan hải quan quyết định kiểm tra sau thông quan, thanh tra;
b) Không khai hoặc khai sai về tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá, mã số hàng hóa, thuế suất, mức thuế, xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nhưng người nộp thuế đã tự phát hiện và khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau thời điểm cơ quan hải quan kiểm tra trực tiếp hồ sơ hải quan và trước thời điểm thông quan hàng hóa.
2. Phạt 20% số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế được miễn, giảm, không thu thuế, được hoàn cao hơn so với quy định của pháp luật về thuế đối với một trong các hành vi vi phạm sau:
a) Không khai hoặc khai sai về tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá, mã số hàng hóa, thuế suất, mức thuế, xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà cơ quan hải quan phát hiện trong quá trình làm thủ tục hải quan hoặc trường hợp cơ quan hải quan phát hiện khi thanh tra, kiểm tra sau thông quan nhưng cá nhân, tổ chức vi phạm đã tự nguyện nộp đủ số tiền thuế phải nộp theo quy định trước thời điểm lập biên bản vi phạm;
b) Khai sai về đối tượng không chịu thuế; đối tượng miễn thuế;
c) Sử dụng hàng hóa trong hạn ngạch thuế quan không đúng quy định;
d) Lập và khai không đúng các nội dung trong hồ sơ miễn thuế, hồ sơ xét miễn, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế, hồ sơ xử lý tiền thuế, tiền phạt nộp thừa;
đ) Vi phạm quy định về quản lý nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị, sản phẩm gia công, sản xuất xuất khẩu, chế xuất dẫn đến hàng hóa thực tế tồn kho thiếu so với chứng từ kế toán, sổ kế toán, hồ sơ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không thuộc trường hợp quy định tại các Điểm d, đ, e và Điểm g Khoản 1 Điều 13 Nghị định này;
e) Vi phạm quy định quản lý hàng hóa trong kho bảo thuế dẫn đến hàng hóa thực tế tồn kho thiếu so với chứng từ, sổ sách kế toán mà không thuộc trường hợp quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 13 Nghị định này;
g) Các hành vi không khai hoặc khai sai khác làm thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu.
3. Vi phạm quy định tại Điều này mà có hành vi trốn thuế, gian lận thuế thì xử phạt theo Điều 13 Nghị định này.
4. Quy định tại Điều này không áp dụng đối với các trường hợp vi phạm quy định tại Điều 14 Nghị định này”.
“Điều 13. Xử phạt đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế
1. Các hành vi trốn thuế, gian lận thuế trong lĩnh vực hải quan gồm:
a) Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp, không đúng với thực tế giao dịch để kê khai thuế; tự ý tẩy xóa, sửa chữa chứng từ dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, được hoàn;
b) Khai sai mã số hàng hóa, thuế suất, mức thuế đối với những mặt hàng đã được cơ quan hải quan hướng dẫn mã số hàng hóa, thuế suất, mức thuế;
c) Không khai hoặc khai sai về tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá, mã số hàng hóa, thuế suất, mức thuế, xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà cơ quan hải quan phát hiện khi thanh tra, kiểm tra sau thông quan nhưng cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện nộp đủ số tiền thuế phải nộp theo quy định trước thời điểm lập biên bản vi phạm;
d) Làm thủ tục xuất khẩu nhưng không xuất khẩu sản phẩm gia công; sản phẩm sản xuất xuất khẩu; sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài của doanh nghiệp chế xuất;
đ) Khai nhiều hơn so với thực tế hàng hóa xuất khẩu về chủng loại, số lượng, khối lượng sản phẩm gia công; sản phẩm sản xuất xuất khẩu; sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài của doanh nghiệp chế xuất, hàng tái xuất có số thuế gian lận từ 100.000.000 đồng trở lên mà không phải là tội phạm;
e) Xuất khẩu sản phẩm theo loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu hoặc xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài của doanh nghiệp chế xuất mà sản phẩm xuất khẩu không được sản xuất từ nguyên liệu đã nhập khẩu; nhập khẩu sản phẩm theo loại hình gia công từ nước ngoài mà sản phẩm nhập khẩu không được sản xuất từ nguyên liệu đã xuất khẩu;
g) Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan hải quan theo quy định;
h) Không khai hoặc khai sai tên hàng, mã số hàng hóa, chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá, thuế suất, mức thuế, xuất xứ hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào nội địa;
i) Không ghi chép trong sổ sách kế toán các Khoản thu, chi liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;
k) Bán hàng miễn thuế không đúng đối tượng quy định;
l) Các hành vi cố ý không khai hoặc khai sai khác về tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá, thuế suất, mức thuế, xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để trốn thuế, gian lận thuế.
2. Người nộp thuế có hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì ngoài việc phải nộp đủ số tiền thuế theo quy định, còn bị phạt tiền như sau:
Phạt 01 lần số tiền thuế trốn, gian lận trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng.
Trường hợp có tình tiết tăng nặng thì đối với tổ chức mỗi tình tiết tăng nặng mức phạt tăng lên 0,2 lần nhưng không vượt quá 03 lần số tiền thuế trốn, gian lận; đối với cá nhân mỗi tình tiết tăng nặng mức phạt tăng lên 0,1 lần nhưng không quá 1,5 lần số tiền thuế trốn, gian lận.
3. Quy định tại Điều này không áp dụng đối với các trường hợp vi phạm quy định tại Điều 14 Nghị định này”.
Thêm nhận xét...

Sửa đổi, bổ sung Thông tư 38: Quản lý chặt chẽ việc hủy tờ khai và đưa hàng về bảo quản


- Các trường hợp được hủy tờ khai hải quan; điều kiện đưa hàng hóa về bảo quản được quy định cụ thể tại Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 38/2015/TT-BTC, đồng thời việc điện tử hóa thủ tục tại hai khâu này là điểm mới có trong Thông tư.

Quản lý chặt chẽ việc hủy tờ khai và đưa hàng về bảo quản
Thủ tục hủy tờ khai, đưa hàng về bảo quản sẽ được điện tử hóa. Trong ảnh: .
Rõ ràng thủ tục hủy tờ khai

Tại Khoản 1 Điều 22 Thông tư số 38/2015/TT-BTC quy định một số trường hợp cơ quan Hải quan sẽ tự hủy tờ khai khi quá hạn 15 ngày mà người khai hải quan chưa có hàng hóa đưa vào khu vực giám sát hải quan hoặc chưa thực hiện thủ tục kiểm tra hải quan với cơ quan Hải quan. Theo ban soạn thảo, chính sách hiện hành chưa có quy định về việc hàng hóa NK đã đăng ký tờ khai, chưa hoàn thành thủ tục hải quan nhưng có nhu cầu tái xuất. Chính vì vậy, thông tư sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể các trường hợp hủy tờ khai và điện tử hóa thủ tục hủy tờ khai.

Cụ thể, các trường hợp hủy tờ khai khi hết thời hạn có giá trị làm thủ tục hải quan gồm: Đối với tờ khai hải quan NK là khi hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hàng hóa NK mà không có hàng NK đến cửa khẩu.

Đối với tờ khai hàng hóa XK, hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hàng hóa XK, hàng hóa được miễn kiểm tra hồ sơ và miễn kiểm tra thực tế nhưng chưa đưa vào khu vực giám sát hải quan tại cửa khẩu xuất; Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hàng hóa XK, hàng hóa phải kiểm tra hồ sơ nhưng người khai hải quan chưa nộp hồ sơ hải quan hoặc đã hoàn thành thủ tục hải quan nhưng hàng hóa chưa đưa vào khu vực giám sát hải quan tại cửa khẩu xuất; Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hàng hóa XK, hàng hóa phải kiểm tra thực tế nhưng người khai hải quan chưa nộp hồ sơ và xuất trình hàng hóa để cơ quan Hải quan kiểm tra.

Các trường hợp hủy tờ khai theo yêu cầu của người khai hải quan gồm: Tờ khai hải quan XK đã hoàn thành thủ tục hải quan, đã có hàng hóa đưa vào khu vực giám sát hải quan nhưng người khai hải quan đề nghị đưa trở lại nội địa để sửa chữa, tái chế; Tờ khai hải quan XK tại chỗ đã thông quan hoặc giải phóng hàng nhưng người XK hoặc người NK hủy giao dịch XK, NK; Tờ khai hải quan XK đã thông quan hoặc giải phóng hàng nhưng thực tế không XK; Tờ khai hải quan XK, NK khai sai các chỉ tiêu thông tin không được khai bổ sung, trừ trường hợp tờ khai hải quan NK đã thông quan, giải phóng hàng và hàng hóa đã qua khu vực giám sát hải quan hoặc tờ khai hải quan XK đã thông quan, giải phóng hàng và hàng hóa thực tế đã XK.

Các trường hợp hủy khác gồm: Tờ khai hàng hóa XK, NK đã được đăng ký nhưng chưa được thông quan do Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan có sự cố và tờ khai hải quan giấy thay thế đã được thông quan, giải phóng hàng, đưa hàng về bảo quản; Tờ khai hàng hóa XK, NK đã đăng ký nhưng hàng hóa không đáp ứng các quy định về kiểm tra chuyên ngành, sau khi xử lý vi phạm với hình thức phạt bổ sung là buộc phải tái xuất, tiêu hủy.

Thủ tục hủy tờ khai sẽ được ứng dụng CNTT để điện tử hóa. Trường hợp hủy theo đề nghị của người khai, đơn đề nghị được chuyển theo hình thức điện tử (không sử dụng mẫu giấy); cơ quan Hải quan thực hiện việc kiểm tra và phản hồi kết quả trong vòng 8 giờ làm việc.

Đối với hủy tờ khai theo rà soát của cơ quan Hải quan: Cơ quan Hải quan sẽ rà soát, hủy tờ khai hết thời hạn có giá trị làm thủ tục hải quan trong thời hạn 1 ngày kể từ ngày hết hạn và thông báo cho người khai hải quan thông qua hệ thống.

Quản chặt việc đưa hàng về bảo quản

Quy định hiện hành cho phép việc đưa hàng về bảo quản thực hiện trên cơ sở đề nghị của DN hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành. Người khai hải quan tự chịu trách nhiệm bảo quản hàng hóa, không quy định cụ thể các điều kiện cần đáp ứng về khu vực lưu giữ hàng hóa đưa về bảo quản. Tại Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 38/2015/TT-BTC sẽ hướng dẫn rõ quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 33 Nghị định 08/2015/NĐ-CP liên quan đến việc địa điểm đưa hàng về bảo quản là kho bãi có địa chỉ rõ ràng, được ngăn cách với khu vực xung quanh.

Theo đó, nội dung sửa đổi, bổ sung đưa hàng về bảo quản đối với hàng hóa phải kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm được quy định như sau: Trường hợp do cơ quan kiểm tra chuyên ngành chỉ định, người khai hải quan đề nghị đưa hàng về bảo quản (bản điện tử) kèm giấy đăng ký kiểm tra chuyên ngành có xác nhận của cơ quan kiểm tra chuyên ngành. Trong thời hạn 1 giờ làm việc, cơ quan Hải quan xác nhận việc cho phép đưa hàng về bảo quản theo đúng địa chỉ ghi nhận trên giấy đăng ký kiểm tra chuyên ngành đã được cơ quan kiểm tra chuyên ngành xác nhận.

Trường hợp do người khai hải quan đề nghị đưa về địa điểm bảo quản của người khai hải quan, người khai hải quan phải nộp bản đề nghị đưa hàng về bảo quản (bản điện tử) kèm Giấy đăng ký kiểm tra chuyên ngành có xác nhận của cơ quan kiểm tra chuyên ngành. Khi nộp hồ sơ đề nghị đưa hàng về địa điểm bảo quản lần đầu tiên, người khai hải quan nộp cho cơ quan Hải quan tài liệu chứng minh địa điểm đưa hàng về bảo quản là kho bãi có địa chỉ rõ ràng, được ngăn cách với khu vực xung quanh đảm bảo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 33 Nghị định 08/2015/NĐ-CP. Trong vòng 2 giờ cơ quan Hải quan sẽ thông báo cho người khai về kết quả xử lý.

Đối với việc quản lý hàng hóa đưa về bảo quản, Thông tư quy định, khi hàng hóa được đưa về địa điểm kiểm tra hoặc địa điểm bảo quản, người khai hải quan phải thông báo về hàng hóa đã đến đích cho cơ quan Hải quan. Trường hợp bất khả kháng không thể đưa hàng hóa về địa điểm kiểm tra hoặc địa điểm bảo quản đúng thời hạn, người khai hải quan áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo nguyên trạng hàng hóa và thông báo ngay cho cơ quan Hải quan theo số điện thoại đường dây nóng trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan.

Trong thời gian bảo quản hàng hóa, trường hợp cơ quan kiểm tra chuyên ngành yêu cầu đưa hàng hóa vào lắp đặt, vận hành để thực hiện kiểm tra chuyên ngành, người khai hải quan có trách nhiệm thông báo cho chi cục hải quan nơi đăng ký tờ khai bằng văn bản trước khi lắp đặt, vận hành.

Liên quan đến việc kiểm tra việc bảo quản hàng hóa tại kho của DN, Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 38/2015/TT-BTC quy định: Cơ quan Hải quan nơi quản lý địa điểm bảo quản hàng hóa chịu trách nhiệm kiểm tra việc bảo quản từ khi nhận được thông báo của người khai hải quan về thời điểm hàng hóa đến địa điểm bảo quản đến khi thông quan, giải phóng hàng. Cục Hải quan nơi đăng ký địa điểm bảo quản hàng hóa phân công cho đơn vị trực thuộc tổ chức giám sát, theo dõi tình hình bảo quản hàng hóa.

Trường hợp có cơ sở xác định hàng hóa không đảm bảo nguyên trạng theo đề nghị của cục hải quan nơi đăng ký tờ khai thì cục hải quan quản lý địa điểm bảo quản có trách nhiệm kiểm tra xử lý theo quy định của pháp luật.

(St.)
Thêm nhận xét...

Nghị định 59/2018/NĐ-CP bổ sung quy định về trị giá hải quan


- Nhiều vấn đề liên quan đến trị giá hải quan hàng XK; kiểm tra, xác định trị giá hải quan đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 59/2018/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 59), qua đó, khắc phục được những vấn đề vướng mắc trong thời gian qua liên quan đến vấn đề này.

Nghị định 592018NĐCP bổ sung quy định về trị giá hải quan

Bổ sung phương pháp xác định trị giá hàng XK

Nghị định 59 đã bổ sung phương pháp xác định trị giá hải quan hàng XK, nội dung này được thể hiện tại Khoản 8 Điều 1. Các phương pháp xác định trị giá hải quan hàng XK đã được bổ sung như sau: “Trị giá hải quan hàng XK là giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất, không bao gồm phí bảo hiểm quốc tế và phí vận tải quốc tế, được xác định theo trình tự các phương pháp sau:

a) Giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất bao gồm giá bán ghi trên hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc hóa đơn thương mại và các khoản chi phí liên quan đến hàng hóa XK phù hợp với chứng từ có liên quan nếu các khoản chi phí này chưa bao gồm trong giá bán của hàng hóa;

b) Giá bán của hàng hóa XK giống hệt, tương tự trên cơ sở dữ liệu trị giá hải quan sau khi quy đổi về giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất tại thời điểm gần nhất so với ngày đăng ký tờ khai XK của lô hàng đang xác định trị giá;

c) Giá bán của hàng hóa XK giống hệt, tương tự tại thị trường Việt Nam sau khi quy đổi về giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất tại thời điểm gần nhất so với ngày đăng ký tờ khai XK của lô hàng đang xác định trị giá;

d) Giá bán của hàng hóa XK do cơ quan hải quan thu thập, tổng hợp, phân loại theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định này sau khi quy đổi về giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất.”

Việc sửa đổi, bổ sung nêu trên nhằm đảm bảo đủ căn cứ pháp lý, tạo thuận lợi cho việc xác định trị giá hải quan hàng XK đối với các trường hợp không xác định được trị giá theo hợp đồng mua bán hoặc hóa đơn thương mại. Việc bổ sung thêm các phương pháp xác định trị giá không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính.

Bên cạnh đó, để làm rõ hơn, Nghị định 59 bổ sung khái niệm cửa khẩu xuất. Điều 86 Luật Hải quan quy định trị giá hải quan hàng XK là giá bán tính đến cửa khẩu xuất. Tuy nhiên, Nghị định số 08/2015/NĐ-CP lại không quy định thế nào là cửa khẩu xuất (là cửa khẩu nơi xếp hàng lên phương tiện vận tải hay cửa khẩu nơi hàng hóa được làm thủ tục XK hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam) dẫn đến không xác định được các khoản chi phí liên quan khi xác định trị giá hải quan hàng xuất khẩu.

Do đó, Nghị định 59 bổ sung khái niệm cửa khẩu xuất theo hướng quy định cửa khẩu xuất đối với các phương thức vận tải đường biển, đường hàng không, đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa. Cụ thể, đối với phương thức vận tải đường biển, đường hàng không, cửa khẩu xuất là cảng xếp hàng, nơi hàng hóa được xếp lên phương tiện vận tải ghi trên tờ khai hải quan. Đối với phương thức vận tải đường sắt, cửa khẩu xuất là địa điểm xếp hàng tại cửa khẩu đường sắt liên vận quốc tế ghi trên tờ khai hải quan. Đối với phương thức vận tải đường bộ, đường thủy nội địa, cửa khẩu xuất là cửa khẩu biên giới nơi XK hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam ghi trên hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc các chứng từ khác có liên quan.

Việc sửa đổi, bổ sung quy định này sẽ thống nhất trong cách hiểu cửa khẩu xuất theo nhiều cách khác nhau dẫn đến xác định các khoản chi phí phải cộng vào trị giá hải quan đối với hàng hóa XK không thống nhất. Việc bổ sung định nghĩa cửa khẩu xuất không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính.

Thống nhất quy trình kiểm tra trị giá

Liên quan đến việc kiểm tra, xác định trị giá hải quan, Nghị định 59 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định đảm bảo quy trình thực hiện kiểm tra trị giá được thực hiện thống nhất tại khâu thông quan; đảm bảo tính công bằng, bình đẳng cho người khai hải quan trong khai báo, xác định trị giá, tham vấn; khắc phục tình trạng kiểm tra trùng lắp, chồng chéo, vừa tham vấn, vừa thực hiện kiểm tra sau thông quan; tạo sự chủ động cho doanh nghiệp trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.

Nội dung này được quy định tại khoản 9 Điều 1 Nghị định 59: ”Trường hợp đủ cơ sở bác bỏ trị giá khai báo, cơ quan Hải quan thông báo, đề nghị người khai hải quan thực hiện khai bổ sung trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc kể từ ngày thông báo và giải phóng hàng theo quy định. Nếu người khai hải quan khai bổ sung trong thời hạn nêu trên thì cơ quan Hải quan thông quan hàng hóa theo quy định. Quá thời hạn mà người khai hải quan không khai bổ sung thì cơ quan Hải quan thực hiện xác định trị giá, ấn định thuế theo quy định của Luật quản lý thuế để thông quan hàng hóa theo quy định.

Trường hợp nghi vấn về trị giá khai báo, cơ quan Hải quan thông báo cơ sở nghi vấn, mức giá, phương pháp do cơ quan hải quan dự kiến xác định và giải phóng hàng hóa theo quy định, người khai hải quan thực hiện tham vấn với cơ quan Hải quan nhằm làm rõ về tính chính xác của trị giá khai báo.

Trường hợp người khai hải quan đồng ý với mức giá, phương pháp do cơ quan Hải quan dự kiến xác định thì thực hiện khai bổ sung theo quy định trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc kể từ ngày đến cơ quan Hải quan thực hiện tham vấn, cơ quan Hải quan thông quan hàng hóa theo quy định. Trường hợp người khai hải quan không khai bổ sung trong thời hạn nêu trên thì cơ quan Hải quan thực hiện xác định trị giá, ấn định thuế theo quy định của Luật quản lý thuế để thông quan hàng hóa theo quy định.

Trường hợp bác bỏ trị giá khai báo, cơ quan Hải quan đề nghị người khai hải quan khai bổ sung trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc tham vấn. Nếu người khai hải quan khai bổ sung trong thời hạn nêu trên thì cơ quan Hải quan thông quan hàng hóa theo quy định. Quá thời hạn mà người khai hải quan không khai bổ sung thì cơ quan Hải quan thực hiện xác định trị giá, ấn định thuế theo quy định của Luật quản lý thuế để thông quan hàng hóa theo quy định.

Trường hợp chưa đủ cơ sở bác bỏ trị giá khai báo, cơ quan Hải quan thông quan hàng hóa theo trị giá khai báo.

(St.)
Thêm nhận xét...

Nghị định 59/2018/NĐ-CP: Những điểm mới về khai báo, kiểm tra hải quan
Thứ Năm, 10/05/2018 17:11 GMT+7

- Những vấn đề về người khai hải quan; khai hải quan; thời điểm cơ quan Hải quan thông báo việc kiểm tra hải quan cho người khai hải quan; kiểm tra thực tế hàng hóa; kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất, năng lực gia công, sản xuất; xử lý kết quả kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất, năng lực gia công, sản xuất cũng được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 59/2018/NĐ-CP.

Nghị định 592018NĐCP Những điểm mới về khai báo kiểm tra hải quan

Bổ sung đối tượng người khai hải quan

Cụ thể, về vấn đề người khai hải quan, Nghị định 59/2018/NĐ-CP bổ sung đối tượng người thực hiện dịch vụ trung chuyển hàng hóa là người khai hải quan để phù hợp với thực tế phát sinh cũng như đảm bảo rõ ràng, minh bạch. Bên cạnh đó, bổ sung đối tượng người khai hải quan như: Người được chủ hàng hóa ủy quyền trong trường hợp hàng hóa là quà biếu, quà tặng của cá nhân; hành lý gửi trước, gửi sau chuyến đi của người xuất cảnh, nhập cảnh; hàng hóa NK để thực hiện dự án đầu tư miễn thuế.

Về thời điểm cơ quan Hải quan thông báo việc kiểm tra hải quan (kết quả phân luồng) cho người khai hải quan, Nghị định 59/2018/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung như sau: Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan căn cứ tiêu chí phân loại mức độ rủi ro do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định để quyết định kiểm tra hải quan và thông báo trên Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan theo một trong những hình thức: Chấp nhận thông tin khai Tờ khai hải quan để quyết định thông quan hàng hóa; Kiểm tra các chứng từ liên quan thuộc hồ sơ hải quan do người khai hải quan nộp, xuất trình hoặc các chứng từ có liên quan trên cổng thông tin một cửa quốc gia để quyết định việc thông quan hàng hóa hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa để quyết định thông quan. Bộ Tài chính quy định cụ thể thời điểm thông báo việc kiểm tra hải quan trên Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.

Liên quan đến vấn đề kiểm tra thực tế hàng hóa, Nghị định 59/2018/NĐ-CP quy định cụ thể cơ quan Kiểm định hải quan thực hiện việc phân tích phân loại hoặc giám định. Bởi, theo Quyết định số 65/2015/QĐ-TTg ngày 17/12/2015 của Thủ Tướng Chính phủ về cơ cấu tổ chức bộ máy của Tổng cục Hải quan, trong đó Cục Kiểm định Hải quan có các chi cục kiểm định tại các tỉnh, thành phố trọng điểm là đơn vị quản lý nhà nước về kỹ thuật phân tích, phân loại hàng hóa và thực hiện kiểm tra giám sát các điều kiện tiêu chuẩn kỹ thuật quy định đối với hàng hóa XNK. Chính vì vậy, Nghị định 59/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung cụm từ “cơ quan Kiểm định hải quan” thay cụm từ “các tổ chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan hải quan” tại Khoản 5 Điều 29 Nghị định 08/2018/NĐ-CP. Cụ thể: Trường hợp bằng các máy móc, thiết bị kỹ thuật hiện có tại chi cục hải quan, địa điểm kiểm tra hải quan, công chức hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa không đủ cơ sở để xác định tính chính xác đối với nội dung khai của người khai hải quan về tên hàng, mã số, chủng loại, chất lượng, khối lượng, trọng lượng thì yêu cầu cơ quan kiểm định hải quan thực hiện việc phân tích phân loại hoặc giám định để xác định các nội dung trên. Trường hợp cơ quan Hải quan không đủ điều kiện để xác định tính chính xác đối với nội dung khai của người khai hải quan thì cơ quan hải quan trưng cầu giám định của tổ chức giám định theo quy định của pháp luật và căn cứ kết quả giám định để quyết định việc thông quan hàng hóa.

Bổ sung trường hợp kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất XK

Để phù hợp với Luật Thuế XK, thuế NK và tránh gian lận thương mại, trốn thuế thì Nghị định 59/2018/NĐ-CP đã bổ sung thêm các trường hợp phải kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất, năng lực gia công, sản xuất.

Theo ban soạn thảo tại Luật Thuế XK, thuế NK quy định nguyên liệu, vật tư, linh kiện NK để sản xuất hàng hóa XK thuộc đối tượng được miễn thuế NK; do vậy, việc quy định kiểm tra cơ sở sản xuất đối với tổ chức, cá nhân được áp dụng thời hạn nộp thuế 275 ngày quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Nghị định 08 là không phù hợp với Luật Thuế XK, thuế NK. Trong khi đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 12 Nghị định 134/2016/NĐ-CP của Chính phủ thì cơ sở để miễn thuế đối với hàng hóa NK để gia công, sản xuất hàng hóa XK là tổ chức, cá nhân phải có cơ sở sản xuất trên lãnh thổ Việt Nam.

Chính vì vậy, Nghị định 59/2018/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung thêm các trường hợp phải kiểm tra cơ sở sản xuất, năng lực gia công, sản xuất, vấn đề này được thể hiện tại Khoản 17 Nghị định 59/2018/NĐ-CP. Theo đó, các trường hợp kiểm tra gồm: Tổ chức, cá nhân lần đầu tiên NK hàng hóa để gia công, sản xuất hàng hóa XK; Khi phát hiện có dấu hiệu xác định tổ chức, cá nhân thay đổi thông tin về địa chỉ, ngành hàng, quy mô, năng lực sản xuất nhưng không thông báo với cơ quan Hải quan; Tổ chức, cá nhân NK hàng hóa để gia công cho thương nhân nước ngoài nhưng thuê tổ chức, cá nhân khác thực hiện gia công lại toàn bộ hợp đồng gia công; Khi phát hiện dấu hiệu xác định tổ chức, cá nhân lưu giữ nguyên liệu vật tư, linh kiện NK và sản phẩm XK ngoài các địa điểm đã thông báo với cơ quan Hải quan; Các trường hợp khác kiểm tra trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro.

Về xử lý kết quả kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất, năng lực gia công, sản xuất quy định tại điểm b khoản 3 Điều 39, Nghị định 59/2018/NĐ-CP cũng sửa đổi một số cụm từ để phù hợp với quy định tại Luật DN, Luật Đầu tư, Luật Quản lý ngoại thương. Theo đó, cụm từ “không phù hợp với ngành nghề ghi trên giấy phép kinh doanh” tại điểm b khoản 3 Điều 39 được sửa thành “hoặc thuộc ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật mà tổ chức, cá nhân không xuất trình được giấy phép hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh....”.

(St.)
Thêm nhận xét...
Vui lòng đợi trong khi đang tải bài đăng khác