Profile cover photo
Profile photo
Bui Duc Thang
http://buiducthang.com/
http://buiducthang.com/
About
Bui's posts

Post has attachment
Mahamudra

http://buiducthang.com/
Bài 1
Thiền định với mục đích để làm chủ hành động, suy nghĩ, lời nói của mình. Thiền giúp chúng ta học được chữ ‘Xả’..
Mỗi người khi nói, nghĩ, hành động đều được chứng kiến bằng các sinh linh khác hữu hình hoặc vô hình trong Pháp giới này. Chỉ một ý nghĩ khi phát ra đã đánh động các tinh linh, một ý nghĩa xấu sẽ thu hút các tinh linh ác, và một ý nghĩ thiện sẽ đánh thức các hành động của các tinh linh thiện như tán thán, rải hoa.. Đừng hồ nghi điều này, vì còn hồ nghi, ta còn tạo nghiệp và còn lăn trôi trong biển khổ, luân hồi.
Ngày hôm nay ta sẽ ý nghĩ – ý, hành động – thân, lời nói – khẩu, trong một không gian ‘hướng thiện’, một không gian không thuộc một nhánh tôn giáo nào. Khi ta làm chủ được thân khẩu ý, ta sẽ làm chủ được nghiệp, và sẽ đạt mục tiêu cuối cùng là giải thoát.
Công việc ta sẽ làm không ngơi nghỉ từ giờ trở đi, đó là làm chủ nghiệp, bằng một phương pháp có tên là Đại thủ ấn.
Tất cả chúng ta đều đã đang và sẽ không ngừng tạo nghiệp thông qua thân khẩu ý. Đại thủ ấn là phương pháp giúp ta làm chủ quá trình tạo tác qua thân khẩu ý, và qua đó giúp ta chuyển nghiệp. Nếu quá trình chuyển nghiệp này quá chậm, thì mãi về sau nó vẫn có ích lợi, do những năng lượng/nghiệp tốt (công đức, phúc đức) tích tụ để dành qua năm tháng. Cũng như một người kinh doanh mỗi ngày tích tụ được 2,000 đồng qua năm tháng cũng sẽ trở nên giàu có. Ngược lại nếu cứ mỗi ngày bóc vào vốn một chút thì dù giàu có đến mấy cũng sẽ đến ngày phá sản. Nhân bản là sự hướng thiện và nỗ lực hướng thiện của con người, và đó mới là tài sản quý báu của con người, chứ không phải các tài sản, danh vọng hữu hình khác. Sức mạnh của điều này quá mạnh khiến chính bản thân Thanhan bị đẩy bật khỏi đời thường với đầy đủ sự ổn định về công việc, thu nhập và mọi dòng chảy khác để rao rảng về điều này.
Đại thủ ấn theo phương pháp này không cần danh xưng, không cần quy y.. Dòng chảy này đã bắt đầu từ trước kỷ nguyên Phật giáo (từ ngài Tilopa với hình ảnh đặc trưng là một người bắt con cá trên tay). Jesu cũng là một tín đồ của Đại thủ ấn. Một hành giả Đại thủ ấn tu tập qua năm tháng sẽ quân bình về nghiệp, sẽ giống như đi trên mặt nước (dòng sông nghiệp), và nắm được nghiệp như bắt được con cá trên tay.
Chúng ta là một tập hợp của dòng chảy nghiệp, ra đời từ một điểm hư vô. Đại thủ ấn sẽ giúp chúng ta tìm về điểm hư vô đó, đó là Trung mạch có dạng hình ống, kết từ 7 điểm từ Bách hội đến Hội Âm. Nó có 5 nút thắt và giữ cho mỗi người một dòng nghiệp khác nhau..
Buổi ngày hôm nay ta sẽ đi về bản chất vấn đề – thực chất những người ngồi đây là tổ hợp của:
– 1 và 7 là những cánh cổng
– Trung tâm 2, 3, 4, 5, 6: 2 và 3 là một khóm giữa bụng. 4 (ngực), 5 (cổ họng) giữ tại chỗ, 6 (đầu) lôi kéo tham gia
– ở dưới bụng là nơi tập hợp tất cả các nghiệp, được kế thừa từ quá khứ và sẽ chảy tiếp vào tương lai. Khi ta khởi tâm, ta đã rút một sợi nghiệp ra khỏi trung tâm này và đã bắt đầu tạo quả cho tương lai.
– Trung tâm cổ họng sẽ giúp gia tốc việc chuyển nghiệp. Đọc chú (mantra) là một cách, với điều kiện là phải hiểu bản chất của nó. Khi việc gia tốc xảy ra, ta sẽ cómột hoa sen ngàn cánh trên đỉnh đầu..
Thực hành Đại thủ ấn rất dễ, vàcó thể làm ở nhà. Kỹ thuật là phải ngồi để cột sống thật lỏng (như con rắn đứng trên đuôi), quan trọng phải thật cân bằng, đu đưa rất nhẹ, liên tục. Lúc đó thì cổ sẽ thẳng. KHi thẳng cổ thì ta sẽ tác động vào trung tâm ngực, và khi đó là ta bắt đầu rút nghiệp ra để xử lý. Cố gắng kéo cằm vào gần sát yết hầu để gia tốc cho nghiệp, thanh lý nghiệp xấu. Dấu hiệu sẽ là nước bọt chảy ra. Nuốt nước bọt rất tốt cho thân tâm.. Nếu miệng khô là tập sai, nếu có nhiều nước bọt không bao giờ bị tẩu hỏa nhập ma.. Muốn để chuyển hóa ở trên chuyển hóa, chúng ta thu rút ánh mắt (lúc đó sẽ thu hút cả lục căn). Khi thu hút lục căn thì mới hóa giải được nghiệp.
Một người giải thoát sẽ có cảm giác như một thân cây thẳng tắp.. Khi đó ta đã để nghiệp đổ một cách có trật tự. Nghiệp đã bắt đầu chuyển theo hướng thiện ..
Đại thủ ấn là tổng hợp của 8 yoga..
Cúng dường và phát Bồ đề tâm: phải có quá trình phát triển:
– Sự phát tâm thô
– Sự xuyên thủng sắc và vô, thâm nhập vào bình diện vô hình
– Sự trưởng thành của nguyện lực từ samaya thành mahasamaya
– Sự trưởng thành của thần lực để giúp chúng sinh dù ở địa ngục atỳ cũng có thể nhận được cúng dường.
Quá trình này phải gắn liền với sự phát triển của Tuệ giác. Tuệ giác phát triển đến đâu thì năng lực bồ đề tâm sẽ giới hạn ở đó. Nếu thực hành Bồ đề tâm mà không trưởng thành tuệ giác thì chỉ tăng trưởng công đức mà thôi, chứ không phát huy được năng lực tối thượng của Bồ đề tâm..
Mahamudra – bài 2
Nên viết nhật ký, vì tâm linh vô hình, nhưng nó để lại cho ta những cảm xúc, dấu ấn thay đổi từng ngày từng giờ. Nếu không viết nhật ký thì sẽ không thể theo dõi được sự trưởng thành đó, và sẽ không thấy sự ấu trĩ của ta được rèn giũa như thế nào. Lúc đầu sẽ khó khăn, nhưng sau đó viết nhật ký sẽ là một bài thực hành để rèn sự kiên nhẫn.
Phương pháp ta sẽ học là phương pháp đối diện với ‘vốn mặc định’ mà ta đang có. Nó là nghiệp. Tài sản của chúng ta là công đức (nghiệp lành). Nếu ta không biết giữ thì những việc ta tạo tác (nghiệp bất thiện) thì nó sẽ bào mòn công đức của ta và sẽ mang lại nhiều điều đen đủi cho mình..
Chúng ta đùa với nghiệp mà không biết, tất cả đều là do những nghiệp bất thiện, những chủng tử chúng ta đã gieo trong quá khứ mà không biết (câu chuyện về 200,000 kiếp xoay qua xoay lại giữa một người nam và hai người nữ, trong đó có một người bị ung thư máu, và sẽ tiếp tục xảy ra tiếp trong tương lai).
Đại thủ ấn:
– Giai đoạn 1: tác động vào ba trung tâm dục, tình thương và thiền trong trung mạch (trung tâm 2, 4, 6 là những trung tâm dễ tiếp cận nhất), để bắt đầu chuyển nghiệp
– Giai đoạn 2 là tác động vào trung mạch thông qua tứ đại (các trung tâm địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại)
– Giai đoạn 3: chuyển hóa nghiệp trong trung mạch theo 4 cấp rõ ràng: trung tâm bụng, ngực, cổ họng và đỉnh đầu. Ở bụng là nơi nghiệp cấu tạo nên chúng ta hiện hữu, ở ngực là nơi rút từng sợi nghiệp để quán xét xem tốt hay xấu, cần nhân bản hay xử lý đi; ở họng là nơi gia tốc chuyển nghiệp; khi nghiệp đã trung hòa thì đẩy lên trung tâm trán để trở thành bông sen ngàn cánh bất nhiễm.
TU chính là theo dõi quá trình chuyển hóa nghiệp. Ngài Tilopa được nhận giáo lý Đại Thủ ấn từ Đức Kim cương trì. Vào thời đó, giáo lý này được hiện diện trong vũ trự với tên là Phổ hiền (Đức Phật Samantapramha truyền bá 18,000 năm trước). Sau đó giáo lý này bị dòng thời gian phủ lên, và chỉ còn tên là Zogchen-Đại hoàn thiện.
Như vậy là ta sẽ áp dụng giáo lý Đại thủ ấn bằng cách trực diện với Nghiệp, tiêu trừ nghiệp xấu và tích lũy công đức thông qua kỹ thuật ngồi. Khi ngồi đến khi rơi vào trạng thái tiêu chuẩn, tức là quá trình chuyển hóa nghiệp trở nên tự động thì lúc đó ta sẽ đi vào đời sống, bất cứ hoạt động nào đi đứng ngồi, cãi lôn.. đều vẫn giữ được dòng chảy của nghiệp theo 4 trung tâm đó. Nếu ngồi đúng thì ta sẽ làm chủ được cuộc sống của mình.
Vì chúng ta chưa biết ngồi, nên cột sống của chúng ta chưa thẳng được và sẽ đổ (cũng như cục đất sét ở trên đầu cái bút chì làm cây bút chì đổ kềnh). Vậy ta phải tìm một vật đối trọng (như cái compa giữ cái bút chì) sẽ giúp làm cho cái bút chì đứng vững. Nhưng không phải ở môi trường nào cũng có thể giữ được cây bút đứng thẳng. Vậy cách ngồi sẽ giúp ta tạo môi trường để thiền.
Kỹ thuật: ngồi kê mông (nếu kiết già thì sẽ tạo áp lực lớn hơn, dễ tạo trạng thái cân bằng hơn) để mông ưỡn ra, mà làm cái cột sống thẳng như cái bút chì một cách tự nhiên, và đánh thức trung tâm bụng. Lúc đấy ngực sẽ ưỡn ra một cách thoải mái, đánh thức trung tâm ngực. Khi kéo cằm sẽ đánh thức trung tâm cổ họng. Khi gáy thẳng sẽ kéo toàn bộ từ dưới lên.
Điều chỉnh vi tế:
– Vi chỉnh 1: kéo chân càng sát bụng càng tốt (sát dưới rốn, cách rốn 3 đốt ngón tay), đầu gối sát đất. Nếu ngồi kiết già thì 2 gót sẽ gần sát rốn là tốt nhất. Cơ thể sẽ biết là cần điều chỉnh bên nào (đặt chân nào lên trước). Nếu ngồi hoàn hảo là dòng chảynghiệp sẽ chạy qua thân thể với một vận tốc rất mạnh. Mỗi người sẽ có ưu tiên, phải lắng nghe cơ thể. Mục tiêu của kiết già là để cột chặt gót chân vào mà thôi. Một chiếc khăn sẽ tạo một thế thiền định để cột chặt chân vào.
– Vi chỉnh 2: thót hậu môn (thót, giãn nhịp nhàng theo nhịp thở, cùng nhịp) để tránh cho nghiệp không thoát ra. (tiểu xảo: hít vào nâng bụng/hậu môn lên hoặc dùng gót chân đè thẳng vào hậu môn)
– Vi chỉnh 3: kiểm tra eo lưng lỏng (đung đưa trước sau theo nhịp thờ). Khi eo lưng lỏng sẽ chữa được mọi bệnh về cột sống. Nếu không thả lỏng được thì cuộc ngồi thiền vô nghĩa. Khi lỏng eo lưng cột sống sẽ lỏng và dòng nghiệp sẽ tự chảy
– Vi chỉnh 4: đôi tay giống đang bê một vật nhẹ, phải có lực. Khi các tư thế ở tay bắt thành ấn thì mới bơm để dòng nghiệp phóng lên đỉnh đầu
– Vi chỉnh 5: kéo cằm cách yết hầu một đốt tay. Khi cột sống thẳng thì cằm sẽ tự kéo vào. Cần theo dõi và nuốt nước bọt.
Sau khi ngồi đúng, các điều kỳ lạ sẽ xảy ra, và ta có thể viết thành nhật ký.
Trong những buổi ngồi thiền đầu tiên, cơ thể sẽ đu đưa nhè nhẹ. Vì lúc đó dòng chảy nghiệp từ dưới lên, nhưng trung mạch chưa thông, nên làm cơ thể đu đưa. Đầu trống không.. Đừng theo dõi những đu đưa của cơ thể, mà nên tựa vào lưng tường và lưng ghế. Không cần kéo dài việc ngồi thiền trong những buổi đầu tiên, mà nên chỉ tập trung vào tư thế, kỹ thuật. Khi đã có thể ngồi theo tư thế tiêu chuẩn thì hãy rời tư thế đó và làm lại từ đầu. Chỉ khi ta có thể làm chủ tư thế thì mới có thể làm chủ cuộc sống.
Nếu đã cảm nhận được dòng chảy dọc trong cột sống thì nên từ bỏ tư thế ngồi và ngồi lại từ đầu. Khi năng lượng kéo lên sẽ xuất hiện các chuyển động thì hãy để các chuyển động xảy ra (nếu mất ngủ thì sẽ ngáp không ngừng, nếu tắc/đau thì sẽ lắc cổ..). Nếu thấy nước bọt chảy trong yết hầu và có thể nuốt một cách êm ái thì đó là tư thế ngồi tiêu chuẩn. Sau khi trải qua các tạp chất thì sẽ có cơn thiền định tiêu chuẩn (ngồi trong tư thế này trong 48 phút).
Dòng chảy của nghiệp khi đi qua trung tâm bụng, nhu cầu của dục có thể tăng lên. Khi đi qua trung tâm bụng, sẽ ăn uống thất thường. Khi đi qua trung tâm ngực, hay khóc. Khi lên trung tâm trán, sẽ thấu thị, thấy một số tinh linh vô hình, hoặc khó ngủ, hoặc cáu. Nhưng không được dừng lại, mà phải để cho dòng này bay thẳng lên đỉnh đầu. Hạ hỏa bằng cách nuốt nước bọt thì sẽ không bao giờ tẩu hỏa nhập ma. Bỏ cuộc giữa chừng là đang tự làm hỏng mình.
Khi ngồi đúng thì mình sẽ nhớ lại hết, cho đên lúc lọt lòng. Khi ngồi đúng, sẽ chữa lành thân bệnh thô (vặn vẹo cho hết chỗ đau) sau đó là thân bệnh tinh (nước bọt chảy ra) và tâm bệnh (nhớ lại lỗi trong quá khứ, mình ăn năn và sẽ tiêu được nghiệp xấu đó => sám hối và sửa mọi lỗi lầm).
Có thể nằm tập (con trai nằm nghiêng sang bên phải, con gái nằm sang bên trái).
Mục tiêu của phương pháp đại ấn là tăng áp lực ở bên dưới và thả lỏng ở bên trên. Nếu bị áp lực ở trung tâm 6 (thường gặp) thì nên đối trọng bằng cách tăng áp ở trung tâm 2 (bằng cách đứng vặn xoắn chân) hoặc trung tâm 4 (phát nguyện mạnh).
Đến một ngày, dòng chảy này sẽ mở cửa Brahma và đánh thức nguyện thần (lúc đó thức thần sẽ thu lại => thu rút lục căn). Khi giải thoát, các luân xa sẽ không rối tinh mà sẽ thành các bong hoa và để dòng chảy này tự do, lúc đó các cửa sẽ đóng hết chỉ có cưa Brahma mở ra, và thần thức thoát ra ngoài từ cửa đó.
1. Mahamudra – bài 3
Các tình huống của mình khi xảy ra, cần đánh giá nó như một hành trình nhân quả, như một dòng song chảy đi thì nước sẽ không có lũ. Nếu ta cứ bị cuốn theo nó thì nó sẽ sốc lên đầu.
Một phương pháp nữa có thể kiểm soát được đó là áp dụng cách phối hợp đồng đều lực tuyến của cả 3 trung tâm ngực, đầu và cổ họng, để áp lực bay vọt lên mà không bị kẹt. Sẽ khó vì an hem không tập luyện một cách đúng tiêu chuẩn, vì vẫn đi làm, vẫn tích lũy giao thức, stress, và mang nguyên những ức chế đó vào buổi tập, gây quá tải với ngừoi tập thiền và gây nhức đầu. Thời gian mới tập anh chị em cũng sẽ rất nhạy cảm và sẽ bị xáo trộn nhiều.
An thường ngồi thiền 10 tiếng/ngày và trước khi ngồi thiền phải giải quyết hết tất cả các vấn đề của gia đình.. nhưng rồi khi ngồi lại phải chứng kiến vợ chồng hàng xóm cãi nhau, trẻ con ốm, tinh linh bay vụt qua, hay linh hồn cần giúp đỡ. Lúc đó An phải xong các việc đó rồi mới rơi vào cơn thiền định của mình. Nhưng một ngày An vượt qua cảm giác đó. Bây giờ An giúp mọi người vượt qua cảm giác đó.
Quay lại hình tượng cây compa. Ta hãy tạo một áp lực vững chãi ở chân, như cây compa, vùng hội âm như đầu nhọn của bút chì. Xương cụt cắm vào cột sống như cây compa chích vào bút chì. Bút chì rất dài, đầu mình đã gọt cắm vào compa để hội âm và bách hội thẳng tắp, còn bên ngoài ta không cần quan tâm.
Mục tiêu của ngồi thiền đại thủ ấn là lợi dụng tư thế để chuyển hóa các nghiệp thô nhất. Bộ phận đầu tiên cần khép vào tiêu chuẩn là đôi chân, cần được kéo căng. Nhưng sau khi kéo căng thì không bỏ mặc nó mà phải theo dõi sát sao. Cơ thể như một vương quốc, không được sót một bộ phận nào không để ý tới. Sauk hi có áp lực tăng cường ở bụng dưới, lúc đó hãy bình thản theo dõi tâm trí, đặc biệt là các cảm xúc. Muốn nắm bắt và làm chủ các cảm xúc, hãy giữ tâm lý thật thoải mái. Những người tâm trí còn xáo trộn, hãy theo dõi hơi thở của mình. Khi hơi thở êm, nhẹ, nhịp tim ổn định, hãy keo dài cảm xúc đó. Vào thời điểm tế nhị đó, sự chuyển hóa tại ngực xảy ra dưới dạng các cơn cảm xúc, hoặc là buồn, vui, tức giận. Hãy biết rằng đó là sự kiện chuyển hóa nghiệp tại trung tâm ngực.
Như vậy là ta đã đi được quá nửa hành trình, vì khi đó trung tâm bụng bị tác động và xuất hiện dòng nghiệp ở ngực. Giờ là lúc gia tốc cho nó, hãy kéo cằm, ngửa vai, thẳng gáy, thậm chí phát ra âm thanh. Những âm thanh này sẽ xuất hiện tự nhiên và phù hợp với lưu chuyển của dòng nghiệp thức. Dù có sự khác biệt về cách phát âm nhưng các âm thanh đều là các chu lưu, sự biến đổi, sự xuất hiện của chữ OM.
Như vậy khi các tình cảm xuât hiện trong tâm thức, ta hãy sử dụng chữ OM để tình cảm không luẩn quẩn trong tâm thức. Cách phát âm chữ OM là ta sẽ không để chữ OM quay ra bên ngoài mà đưa vào bên trong. Khi đó gia tốc chuyển hóa của nghiệp được tăng lên rất đáng kể.
Ba trung tâm ở bụng, ngực, cổ họng như 3 công nhân sản xuất ra các sản phẩm, và trung tâm ở đầu đánh giá sản phẩm trước khi xuất kho. Nếu ta quá bị kinh ngạc vì các cảm xúc và các biến đổi trong cơ thể như chảy nước bọt, đau ngứa chân tay, nhức đầu.. thì ta sẽ không thể chuyển hóa nghiệp một cách rốt ráo được, mà ngược lại ta sẽ bị nghiệp chi phối. Trong trường hợp ta chưa sẵn sang để phát âm chữ OM, thì hãy giữ áp lực mạnh ở cổ họng để thở khò khè như đang ngáy, đó là hơi thở đại ấn. Hãy làm điều đó một cách mạnh mẽ, tự nhiên. Những cảm xúc đó dù là vui buồn, hờn ghen, đều không thật, và đại ấn giúp ta nhận ra sự không thật đó. Hãy đừng để quên hậu môn, đừng quên đôi tay.. Động thái đó đang giúp rửa sạch thân thể từ trong ra, từ dọc kinh mạch trung ương đi ra (tập thể dục giúp rửa từ ngoài vào). Hãy tích năng lượng nội lực bên trong, hãy tĩnh trí, nén khí..
Câu truyện thú vị ở chỗ là phải kích hoạt cả 3 trung tâm, không chỉ kêu không.
Hãy phân tán việc tập trong cả ngày, ở cơ quan, khi nấu bếp.. khi căng hông, dồn lực ở đôi chân, ngửa vai, kéo cằm là các trung tâm đã được kích hoạt. Thay vì kêu tiếng OM, hãy hát ư ử..
Khi đứng nghiệp xuất hiện từng cái một, nên viết đứng sẽ khỏe nhất (nếu nghiệp xuất hiện ồ ạt thì khó nhận biết và xử lý nó tốt hơn). Rồi ta sẽ thấy cảm xúc xuất hiện, và hãy đưa nó vào âm OM, thần chú (chu biến của âm OM) hay các lời hát..
Khi có cảm xúc nổi lên và gắn bó một sự việc mình đã quên và gạt được ra, là đã có sự kết nối, và nhận biết thành công Nhưng nếu ta chưa cảm thấy gì thì chưa chuyển hóa được gì cả. Khi ta có chuyển hóa mà không biết là vì sao là do yếu tố TUỆ chưa nảy nở, khi nào Tuệ có thì sẽ biết được.
Trong tuần tới, sẽ có nhiều biến cố xảy ra sau buổi tập, nên hãy giữ liên lạc và email cho An để trao đổi.
Sẽ có thể tắc nghẽn ở các trung tâm ở lưng lâu dài (2-4-6 năm). Khi tắc ở thắt lưng (do tham), có thể rối loạn về dục, không phân biệt được đàn ông, đàn bà. Tắc ở giữa lưng (do sân), sẽ dễ bị xúc động vô cớ. Nếu tắc ở cổ (do si không chịu học hành để hiểu biết thêm), thì dễ bị các tinh linh chi phối. Khi biết vậy thì phải tập trung tập để giải tỏa các trung tâm đó, và có thể ưu tiên để giải tỏa một trung tâm nào đó.
Tập hợp, sợi, cảm xúc, âm thanh, ra ngoài. Khi đổ nghiệp ra ngoài ai sẽ hứng? Khi nghiệp ở dưới thì vô sư vô sách, quỷ thần bất trách. Khi ta kéo nghiệp ra ngoài thì phải nhận thức được rằng đã có sự cộng sinh của ta với các tinh linh và các bậc giác gộ khác. Khi ta xuất các sản phẩm nghiệp ra ngoài mà không chuyển hóa đến các linh linh có liên hệ nhân duyên với ta và có nhu cầu dùng nghiệp của ta làm thức ăn, hoặc các bậc giác ngộ đã phát nguyện dùng bồ đề tâm để gánh nghiệp cho ta, thì ta sẽ bị gánh lại đúng nghiệp đó, tiếp nhận và chuyển hóa đi để thành nghiệp thiện.
Khi quán Chú trăm âm, cam lồ của Phật Kim cương tát đỏa tràn vào thân ta sẽđẩy các ô nhiễm của thân ta xuống dưới, và dòng nghiệp xấu đó cần được tiếp quản bởi con bò thiêng dưới lòng đất. Vậy ta không thể chỉ đẩy nghiệp ra mà còn phải kết nối để con bò sẽ tiếp nhận. Đó chính là nhiệm vụ của trung tâm đầu khi quán tưởng, kết nôi với Bổn tôn, cũng như đi tìm đúng thị trường cho sản phẩm xuất đi. Việc này phải tự học, tự tìm hiểu.. Có 3 giai đoạn: nghiệp thô (cho bò xơi), trược cáu uế (cho trào ra ngoài thân), cáu uế tinh vi tế (dùng ánh sáng để diệt). Không thể chuyển hóa thân bằng tưởng, mà bằng năng lượng ánh sáng. Chuyển hóa ánh sáng qua khí, mạch, hạt, qua đó cam lồ Kim cương tát đỏa mới tràn vào chuyển hóa nghiệp vi tế.
Kết thúc của cuộc hành trình là chúng ta thanh thản, thanh thản hàng ngày, trong từng ý nghĩ, lời nói.. đó là đại ấn. Như cậu chuyện của bố của Steve Jobs sau bao năm bỏ con, đến khi biết Steve Jobs đã thành đạt thì ông chỉ phát nguyện là được có một buổi thanh thản uống café với con. Đó là việc ông đã kết nối với quá khứ, nảy sinh tình cảm yêu thương (không vị kỷ) và nói ra tâm nguyện để được thanh thản, khi đó Đại ấn đã xảy ra rồi, không cần phải đọc một bài chú hoàn hảo mới là Đại ấn.
Mahamudra – bài 4: Làm chủ thân tâm.
Vì thế ta phải đồng nhất thân này, tâm này với Bổn tôn để hoàn thành trí tâm, trí lực. Vì thế ta phải thực hành bồ đề tâm để hoàn thành bi lực. Vì thế ta phải thực hành lễ lạy để hoàn thành đạo đức, thực hành Bát chánh đạo để trưởng thành Nguyện lực. Khi ta khó khăn để duy trì dòng chảy nghiệp thức thông qua bốn trung tâm, ta hãy tạm thời quán tưởng sự trưởng thành các trung tâm ở bụng và ở đầu. Khi ta bước vào đời sống mà vẫn duy trì được ý thức về 4 trung tâm này, đó là cách tu tối đơn giản mà vẫn là tinh thần của Đại ấn.
Trong trường hợp nào đó sự ho là cách xả nghiệp cấp tốc, hãy nhận biết được hành trình nhân quả này. Nếu không duy trì được áp lực đồng đều lên cả bat rung tâm bụng, ngực và đầu, ta sẽ bị rối loạn và bị ảo ảnh chi phối bởi 4 cảm xúc. Thiền đúng chính là duy trì năng lực đồng đều ở ba trung tâm này. Cổ họng là nơi điều tiết và phân phối đều nguồn lực của cơ thể. Hãy gìn giữ hơi thở, hít sâu vào bụng và thở ra từ từ.Có thể trục xuất nó qua miệng. Với mỗi hơi thở ra ngắn, kiên quyết, ta đang trục xuất các nghiệp bất tịnh. Đừng ngần ngại, lo sợ, đừng bị phân tâm.
Đến cuối buổi tập, dù ngắn hay dài, hãy lắng tâm lại và theo dõi sự an lạc. Hãy lắng nghe máu đang dồn xuống những vùng bị bó chặt. Hãy động đậy các ngón tay, ngón chân và các giác quan để cảm nhận được. Mục tiêu là sự làm chủ thân tâm, không phải là để gầm to hay nhỏ..
Chỉ khi tích tụ được nội lực rồi, kết ấn mới có tác dụng. Ấn là nội lực. Thủ là trí tuệ. Đại là sự kết hợp của nội lực và trí tuệ. Ngồi thiền Đại thủ ấn, dòng nghiệp chảy rất mạnh, nên không nên chỉ tập 20 phút mà nên dãn ra cả ngày thì mới có thể xử lý hết được.. Thiền cắm hoa, thiền nấu ăn..
Ta sẽ gặp khó khăn, như đau cơ thể, hay kinh hoàng vì cảm xúc.. Nhưng đừng bị ám ảnh bởi nó, hãy nói rằng đấy chỉ là nhân quả, là ảo ảnh. Giờ đây khi nhân đã gieo, quả đã xảy ra, đã thành nỗi sợ, thì sẽ bị ánh sáng thiêu đốt.. Thanhan bị ám ảnh bởi một con cá voi, sợ kinh khủng, trong 20 năm. Khi nhận thức rằng đó là ảo ảnh thì không sợ nữa..Một nỗi sợ nữa là đống phân, bãi nước bọt, những thứ ẩm ướt, đen xì.. nhưng bằng sự phát triển tuệ giác thấy rằng trong các vật nhơ bẩn đó là cả 1 thế giới và thế giới đó được trưởng thành, hấp thu năng lượng có được từ sự ghê tởm. Và sau vì tiếp tục ghê tởm thì mình cầu nguyện cho những chúng sinh ở trong thế giới tiêu cực đó thì lập tức họ không dọa mình, mình không sợ nữa, và họ được tịnh độ nhờ sự cầu nguyện của mình..
Quán thân trên thân, thọ trên thọ, tâm trên tâm, pháp trên pháp: theo dõi đây là nghiệp, cảm xúc, sự thanh thản.. mà không được nhập vào sự thanh thản đó, mà phải nhận ra được sự thanh thản đó là từ cảm xúc. Khi theo dõi tư thế là quán thân, khi theo dõi cảm xúc là quán thọ, khi theo dõi sự thanh thản là quán tâm, khi thấy toàn bộ dòng chảy là hành trình nhân quả, đó là quán pháp. Khi thấy tâm thọ tâm pháp xuất hiện đồng thời thì mới là thiền Đại thủ ấn..
Những rắc rối trong thực hành:
– Ngồi kiết già rất khó, nên có thể đứng xoay mũi chân vào để tạo áp lực cho bụng
– Những người ho, hay nóng rực, ngáp không kiềm chế là bắt đầu có nội lực rồi
– ấn không chỉ là một tư thế, mà là mọi tư thế của cơ thể
– sự thanh thản lấy nguồn gốc từ các cảm xúc, và các cảm xúc lấy từ các hành động trong quá khứ. Tuệ giác không thể xuất hiện ngay, phải từ từ.
– không nên quán cảm xúc một mình (phải cho cảm xúc vào trong không được thả nó ra ngoài), phải quán thọ trên thọ, nếu không sẽ bị sốc
– không nên quán tâm một mình (không được rơi vào sự thanh thản trong không đại), phải quán tâm trên tâm. Cái thanh thản khi làm được một việc nào đó mới là cái thanh thản bên ngoài. Khi thấy thanh thản khi nhìn thấy sự thanh thản, đó mới là quán tâm trên tâm, và mới là đại ấn.
Mahamudra – bài 5: Sự liên hệ giữa Đại thủ ấn và Tứ niệm xứ
Tứ niệm xứ theo cái thấy của thầy Thích Trí Siêu Chia sẻ của Hạnh Dung về ‘quán tâm trên tâm’, tự quán lại sự thanh thản của mình đang cảm nhận được, và thấy rằng sự thanh thản chuyển hóa từ cảm xúc liên quan đến cái tôi (xuất phát từ cảm xúc), và sự thanh thản khi thấy sự thanh thản hân hoan là một cái gì đó khác, là một trạng thái không thể phí hoài mà phải được quán như khi ta quán cảm xúc. Mũi tên đã bắn ra không thể dừng lại được.
Thanh thản lần 1 là thanh thản bên ngoài (có được do uống rượu, ma túy hay sau khi làm một điều tốt), không liên quan đến đại ấn. Cái thanh thản lần 2 là cái thanh thản đặt trong hành trình nhân quả, trong quá trình quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp mới là cái mà mình truy cầu.
Đại ấn không phải là món kẹo mút ☺, mà thực sự rất nguy hiểm. Hãy hiểu rằng khi ta có khởi hành tuệ, ta đang thách thức chính ma vương, họ sẽ chọc phá để ta lụi tàn quyết tâm. Trong vũ trụ có 4 loại ánh sáng, sinh ra từ mặt trời, mặt trăng, từ lửa và tuệ giác. Nếu khi ta có một hành trình tuệ giác, ánh sáng từ thân ta tỏa ra sẽ làm kinh động ma vương, và tất cả các thứ oái oăm là lệ thuộc của ma vương sẽ lần lượt xuất hiện, bước sau kiên cố hơn bước trước để chiến đấu với ta, để vùi dập ta một cách không nương nhẹ.
Mỗi người đến với Đại ấn với một mục tiêu khác nhau, rất đáng trân trọng. Trên con đường tâmlinh không có yếu tố ngẫu nhiên và không có mục tiêu nào cao sang hơn mục tiêu nào. Thậm chí nếu ai đến với thiền với mục tiêu cao cả thì càng phải cảnh giác, vì mục tiêu càng cao càng kêu gọi sự chú ý của ma vương. Nhưng khi ta bước vào con đường tuệ giác, ta đã đứng ở bên kia chiến tuyến của ma vương. Trước đó, ta chính là quyến thuộc của ma vương, vì thế nó không đánh ta. Đó là sự thật. Lúc đó ta chưa thấy tham sân si mạn nghi nó đánh ta, chưa thấy làm sao, sẽ chỉ tham thân ngũ uẩn. Khi ta tuyên chiến với ma vương, ta rời bỏ cái vọng để tìm về chân thức. Đó mới là bản thể của ta, mới là cái giữ cho ta tồn tại, mới là cái mới giữ cho chồng con tuy xa ta mà vẫn bìnhyên. Chứ không phải sự trông coi, tiền, danh vọng.. Nhưng khi là quyến thuộc của ma vương ta sẽ phấn đấu theo tiền bạc danh vọng, sắc đẹp bên ngoài, mà không biết được giá trị thực của đời sống, sẽ sinh ra vọng, cảm thọ buồn khổ, tưởng.. Biến hiện vô thường nhất là sắc thân, không bền, sẽ bị hủy hoại và vì thế có luân hồi. Còn khi diệt vọng thì ta sẽ nhập vào biển chân thức, chân không hiện hữu, niết bàn..
Hành trình hành nan đắc cấp là khi thực hành thì khó khăn nhưng khi rời bỏ sắc thân, trong trạng thái bardo thì ta sẽ chứng đắc rất cao (bài này đã đưa lên nhomanhem). Nếu một người cứ miệt mài suy nghĩ về khổ, vô thường, vô ngã mà không có cơ hội thực hành nhưng vẫn miệt mài quán pháp như vậy thì khi rời bỏ thân sắc, người đó sẽ chứng đắc. Còn nếu ta không phải hành nan mà ta quy y, nhập vào dòng, được hưởng ân sủng của các vị tiền bối thì không có lý do gì mà ta không chứng đắc, không có lý do gì mà không tuyên chiến với ma vương.
Ta lội ngược dòng và ở giai đạn đầu này phải đối diện với những nghiệp kinh khủng nhất. Giai đoạn đầu tiên sẽ gian nan như húc vào một cánh cửa rỉ, sau khi cửa long rỉ mới mở ra mở vào được. Cú húc đầu tiên vô cùng khủng khiếp, ai chưa qua những giây phút có thể tê tâm liệt phế thì sẽ không hiểu được, nhưng rồi sẽ phải trải qua thôi
Cõi Ta bà được tồn tại cho đến ngày nay, vì có cơ duyên may mắn của sự ra đời của Đức Phật. Mọi người có thể hồ nghi, băn khoăn là sao mình không thấy, nhưng đây là sự thật. Sự thật này sẽ đến khi một mai ta mở được con mắt Tuệ thì sẽ thấy là vũ trụ được tồn tại trên cơ sở tình yêu thương. Và trái đất này, cõi Ta bà này còn tồn tại là nhờ tấm lòng từ bi của Đức Phật, đừng hồ nghi. Vì nếu hồ nghi ta sẽ tuột hết công đức, ta cứ làm giàu nhưng cứ hồ nghi đến một ngày sẽ cạn hết như một cái lá héo..
Mỗi tiểu thế giới sinh ra 6 loại chúng sinh trời người atula, người, ngạ quỷ, súc sinh. Mỗi loài do một loại tâm định hình. Riêng con người do cả 5 loại tâm tham sân si mạn nghi hình thành, nhưng đó là ân sủng, vì khi ta là người thì ta có thể chuyển hóa cả 5 loại tâm đồng thời trong quá trình sống của mình. Vì vậy làm người là ân sủng quý báu vô cùng. Khi làm người ta được sự ban phước của Đức Phật để sám hối khi có 5 loại cảm xúc tiêu cực đó. Ai có năng lực sám hối thì sẽ bảo vệ được kho tang công đức của mình. Khi ta biết sám hối, ta sẽ trưởng thành, và ta có thể tới đích chỉ với sự sám hối. Quan trọng thì làm sao để nhận biết được những cảm xúc tiêu cực đó.
Trong hành trình quán thọ trên thọ, cơ thể phải chịu tải và vô cùng đau khổ, vì ta tách rời cảm thọ của mình ra khỏi quá trình, và nó lồng lộn hành hạ mình. Còn khi quán tâm, sự thanh thản tạm thời khác với an lạc vĩnh cửu. Ta sẽ bị nó chi phối cho đến ngày cuối cùng, khi nghiệp của chúng ta vơi đi, khi ta đã hoàn toàn làm chủ được nghiệp, ta sẽ chứng kiến cái chết tâm linh: cái chết của xác thân, cái chết của cảm thọ, cái chết của tưởng, cái chết của hành. Lần này ta sẽ biết thế nào là chân thức. Cái chết tâm linh đó là hành trình kéo dài khoảng 40 ngày. Sau cái chết đó ta sẽ từ từ sống lại và ở trong sự an lạc mãi mãi. Lần này mới là sự thanh thản thực sự và sẽ xảy ra 2 hiện tượng:
• Hiện tượng làm chủ về khẩu: 4 khiếu của lời nói, môi miệng hầu họng. Lúc đó ta sẽ có nhu cầu im lặng. Nhưng khi ta hữu lý tác ý thì sự an lạc không bị mất đi (ta hạn chế nói do nhu cầu không cần nói và sẽ lựa chọn chỉ nói những thứ cần thiết)
• Trạng thái khai mở trí tuệ (mục đích) và ngôn ngữ (phương tiện).
Như vậy sự an lạc ban đầu làm ta bị ru ngủ, và ta sẽ an trú trong nó. Nhưng sự an lạc đó tiếp tục cần được chuyển hóa tiếp, sâu hơn, cho đến khi nào ngay cả trong quá trình đi chợ, nấu ăn, cãi lộn, ngủ.. thì mới là sự an lạc chắc bền, không bị chi phôi bởi hiện tại quá khứ tương lai. Còn nếu cái an lạc phải trú trong nó (an trú trong hiện tại như thầy Thích Nhất Hạnh chỉ ra) thì đó là ma túy nội sinh vì nó chặn đứng mọi hành động tâm linh khác của ta, chặn đứng hành trình chuyển nghiệp của ta. Sự an lạc thực sự sẽ đến sau khi ta trả xong nghiệp và có hành vi chết và sống lại.
Mô tả quá trình chết: Ta sẽ yếu dần nhưng đâu óc rất tỉnh táo, và các cảm thọ không còn nhiều, không chi phối, và cảm xúc sẽ trôi qua rất nhanh. Ta sẽ nhớ lại tất cả mọi thứ trong quá khứ. Khi ta nhớ ra thì ta cầu nguyện cho nó, tịnh hóa nó, làm ta thanh thản trước nó. Rồi các cảm xúc sẽ biến đi, ta hoàn toàn cảm thấy dòng chảy nghiệp thức rút ra khỏi đầu ta và từ từ quay trở lại, đi kèm với sự an lạc, trí tuệ, sự sắc sảo về tư duy và ngôn ngữ. Đó mới là sự an lạc, ta còn hành trình nhiều. Hãy đi, đừng vội.. Những thông điệp này thật là hiếm có, để giúp anh chị em nhiều khi điều đó xảy ra.. Trên đường đi ta sẽ bị lưu lại nơi này nơi khác thật lâu, nhưng hãy tin rằng nếu chưa chứng kiến được 40 ngày chết thì chưa đến nơi..
Người cổ xưa đã viết ra, và bây giờ Thanhan nói với các anh chị.. đó mới là sự giải thoát chắc thật ngay trong đời này.. Một kinh nghiệm về sự thực hành của Thanhan ngày và đêm. Bất cứ lúc nào An cũng thực hành, kể cả những lúc khó khăn nhất mà luôn giữ được sự quán thân trên thân, quán thọ trên thọ. Tiêu chí đó còn cần được tiếp tục trong giấc ngủ. An luôn nằm ngủ một nửa người từ năm 1996. Và để gia tăng thêm sự tỉnh giác, ở cuối giường đặt một cái đèn để khi chạm chân vào thì đèn sẽ đổ. Về sau khi tuệ giác phát triển, ta sẽ không phụ thuộc vào giấc ngủ. Duy trì được tuệ giác sẽ sung sướng hơn ăn, ngủ, ma túy.. An lạc do tuệ giác mang lại là thăng hoa, mạnh hơn tất cả các cảm giác khác mang lại. Nếu ta tỉnh giác thường xuyên, ta đạt được mục đích thiền và không cần ngủ (An bỏ ngủ 13 tháng). Trí não con người vô cùng đặc biệt, được sinh ra để giúp con người hiểu được nhân quả. Khi ta chứng kiến được nhân quả, ta có thể du hành đến bất cứ hành tinh nào và tiếp xúc với bất cứ chúng sinh nào, mà không cần tàu vũ trụ. Đó là sự khác biệt giữa thế giới tâm linh và thế giới vật chất. An đã chứng và mang kinh nghiệm về cho mọi người trong khi vẫn nghiên cứu thế giới vật chất (y học, triết học, vật lý lý thuyết). Và hành trình của An là song sinh giữa vật lý lý thuyết và triết học Phật giáo, cho đến ngày hôm nay. Cho đến khi An phát nguyện chia sẻ với mọi người một cách thẳng thắn là khi An trải qua cái chết Thần hiệp (đã tổng kết trong Ahimsa).
Có nhiều dòng tu, và có nhiều vị chứng đắc cao, rơi vào trạng thái Thánh điên, nhưng chưa phải rốt ráo. Mới là cấp đầu tien trong 4 giai đoạn của Thị kiến Togal (1. tri kiến như thị – trí huệ điên, có nhu cầu khai thị cho người khác bằng mọi phương tiện; 2. Rời bỏ thị kiến, không có nhu cầu gây hấn, làm loạn).. Vị A la hán như cánh chim bay trên bầu trời, như ngọn lửa đã tắt.. Hãy phấn đấu, hãy trở nên ngọn lửa đã tắt sau khi đã thắp lửa cho những ngọn nến khác..
Con đường thiền tuệ có thể đưa người ta giải thoát trong một đời. Có những người không tham gia vào tu hành phật giáo nhưng vẫn ở trong trạng thái Thần hiệp (Van Gogh mô tả bằng tranh, không phải mô tả bằng ngôn ngữ).
Bắt đầu tập thiền:
Hãy thực hành mà vẫn nghe.. nó không phải là gì khác ngoài sư hướng tới Phật tính thiêng liêng trong mỗi cá nhân, vì thế mỗi người đều bình đẳng trước nhau, trước Tam bảo. Đừng tự ti, đừng hồ nghi, đừng ngần ngại.. Hãy quên hãy cảm thọ vui buồn sướng khổ.. hãy quên chỗ đau ở chân, hãy quên sự phiền muộn của những người xung quanh.. chỉ hướng tới bản chất của tồn tại là nhân quả.. đồng hành cùng nó, gia tốc nó rồi đến một ngày ta cưỡi trên nhân quả.. chính hành trình đó là cách thức để ta lìa bỏ bản ngã của mình, và đó chính là Phật đạo. Một khi đã thấu được nhân quả, đó là sự khai tâm..
Photo

Post has attachment

Post has attachment

Post has attachment

Post has attachment
Chuyển hóa nghiệp như Ánh Sáng trong trung mạch.
http://buiducthang.com/
Bản chất của thực hành năng lực Đại Ấn() là chuyển hóa nghiệp như Ánh Sáng trong trung mạch. Khi đó hành giả buộc phải đối diện với hai tiên đề:
+ bản chất của nghiệp là ánh sáng
+ trung mạch là cấu trúc chính để duy trì cấu trúc ánh sáng (cho “cơ thể” của hành giả).
Trong tiên đề thứ nhất, hành giả nhận thấy bản chất ánh sáng của vạn hữu. Hành giả cũng nhận ra “nghiệp” là ánh sáng kết tinh trong thế giới Ảo Ảnh. Nỗ lực chuyển hóa nghiệp chính là sự rèn luyện để cho các hiện tượng trong thế giới Ảo Ảnh trở về với bản bản chất ánh sáng của chúng.
Trong tiên đề thứ nhì, hành giả nhận ra trung mạch như cấu trúc có chức năng tổ chức ánh sáng trở thành hiện hữu trong thế giới Ảo Ảnh. Cấu trúc này, ngoại trừ xây dựng nên cơ thể vật lý còn hình thành nên các giác quan và năng lực nhận thức của hành giả.
Như vậy cũng chính sự lựa chọn chuyển hóa nghiệp trong trung mạch như Ánh Sáng mới là cứu cánh khiến hành giả rũ bỏ sự ngăn che của thế giới Ảo Ảnh.
– Chuyển hóa như thế nào?
Chuyển hóa bằng cách nhận thức rõ về bốn trung tâm của nghiệp trong trung mạch và nỗ lực hình thành véc-tơ chuyển hóa chúng từ dưới lên trên, qua đỉnh đầu.
Bốn trung tâm gồm có:
+ trung tâm bụng là nơi tập hợp của nghiệp;
+ trung tâm ngực là nơi nghiệp phô diễn do đó có tác dụng biểu lộ, tác dụng chi phối hành động và cảm xúc của hành giả khiến cho hành giả tương tác với vạn hữu…
+ trung tâm cổ họng là nơi gia tốc của nghiệp;
+ trung tâm đầu là nơi nghiệp trở về với bản chất vô nhiễm, không tạo tác của nó.
Kể từ sau quá trình nhận thức có kiểm chứng như trên là nỗ lực vận động, trợ lực và gia tốc cho dòng chảy của nghiệp theo hướng giải phóng từ trung tâm bụng lên đỉnh đầu.
Thoạt tiên hành giả đoạn lìa với thế giới Ảo Ảnh bằng cách chấm dứt tám phản ứng thế gian(*). Sau đó hành giả tập luyện tách biệt và kết hợp các trung tâm (của nghiệp) nêu trên với nhau. Tiến trình này nhất thiết nên được hướng dẫn bởi những hành giả đã có được các trải nghiệm cơ bản về chuyển hóa Ánh Sáng trong trung mạch.
Khởi đầu của tiến trình này bao giờ cũng là những vận động thân thể kết hợp với sự giải phóng tâm thức khỏi tất cả ràng buộc sâu thẳm của hành giả vào thế giới Ảo Ảnh. Cuối cùng của tiến trình này mới là nỗ lực thiền định miên mật. Nếu hành giả nào triển khai thiền định một cách vội vã thì y sẽ nhanh chóng đối diện với những tai biến lớn lao khiến cho hành giả mất rất nhiều thời gian và công sức để khắc phục. Tuy nhiên, mất mát lớn nhất của hành giả do sự vội vã này là y bị đánh mất niềm tin vào phương pháp…
Sau khi dòng chảy về nghiệp đã được xác lập, sự gia cường của dòng chảy này sẽ khiến cho y nhận thức thường trực về trạng thái Ánh Sáng Nền Tảng. Kết hợp thực hành chuyển hóa ánh sáng trong đời sống với trong mộng và thiền định, hành giả sẽ thâm nhập trạng thái Ánh Sáng Trên Đường Đạo. Sự nỗ lực đúng đắn và quân bình sau đó sẽ giúp cho hành giả trưởng thành các kinh nghiệm thuộc về Ánh Sáng Thigle(**) (hay còn gọi là Mặt Trời, Hạt).
Đến đây, quá trình chuyển hóa ánh sáng sẽ hình thành nên chuỗi Thigle sáng chói như vô số mặt trời trong trung mạch của hành giả. Quá trình này sẽ kéo dài cho đến khi thân quang và đầu quang được hình thành. Kể từ đó hành giả sẽ được nếm trải kinh nghiệm vĩ đại về tình trạng tế nhị của nghiệp… Nó có tên là “ngai thành tựu về nghiệp”; trạng thái quân bình về nghiệp hay nói theo ngôn ngữ dân gian (tất nhiên là thiếu chính xác về bản chất) là: “sạch” nghiệp!
Hình tượng chính xác nhất và đã được nhiều vị Tổ huấn dụ là một người đi trên mặt nước và tóm bắt những “chú cá nghiệp” bỗng chốc nhảy lên khỏi mặt nước.
Hành trình năng lực của hành giả đến đây coi như có thể tạm thời xác lập bền vững. Tuy nhiên để tránh tình trạng “lạc bước trên đường đạo”, hành giả nhất thiết phải đối chiếu tình trạng nhận thức của bản thân với bốn trưởng thành của tri kiến, gồm:
+ tri kiến như thị
+ tri kiến như huyễn
+ sự hợp nhất tri kiến
+ sự xả bỏ tri kiến.
Bất cứ mức độ tri kiến nào nhưng chưa phải là xả bỏ tri kiến đều khiến cho hành giả bị mắc kẹt trong cảnh giới đó rất lâu. Tai nạn phổ biến nhất là mắc kẹt trong tri kiến như thị như một hành giả “trí huệ điên”. Nhưng tai biến nguy hiểm nhất là mắc kẹt trong tri kiến như huyễn như một hành giả “chấp không”. (**)
Kết thúc của hành trình chuyển hóa Ánh Sáng trong trung mạch đến đây đã mãn. Hành giả sẽ tham gia vào thần hiệp Ahimsa(**) như chuyển hóa ánh sáng từ trung tâm ngực đến trung tâm đầu. Giai đoạn cuối cùng của quá trình thần hiệp này là Bhavamukha(**) như chuyển hóa ánh sáng tối hậu từ trung tâm trán lên cửa số Mười(**) trên đỉnh đầu…
Và nếu hành giả không lựa chọn Cái Chết của cơ thể vật lý thì y sẽ sống lại như một minh chứng cho Cây Sự Sống – Asvattha(**).
(*) Đại Ấn: là cách lối kết hợp con đường năng lực và nhận thức trong Tôn giáo Vĩnh Hằng (Sanatana).
Trích Gửi lại trần gian
Tha nhân

Thiền 7 Điểm Vairocana – Đại Thủ Ấn
Kỹ thuật thiền này trước tiên là kỹ thuật về thân, sau là kỹ thuật về tâm.
Bảy điểm trong kỹ thuật thiền này gồm: 2 đầu gối, điểm cuối xương cùng, 2 đầu xương vai, điểm giữa ngực và điểm đỉnh đầu.
Bảy điểm này khi được sắp xếp theo một trật tự thích hợp sẽ đưa cơ thể vào một khung vững chắc, ổn định và thoải mái tự nhiên.
Các yếu tố quan trọng của kỹ thuật thiền này là:
Khi tọa thiền, hai đầu gối luôn phải thấp hơn điểm xương cùng. Chính điều này tạo thành một chân đế vững chắc giúp nâng đỡ cơ thể một cách chắc chắn.
Trong khi ngồi, eo phải được thả lỏng đồng thời ưỡn nhẹ về phía trước ép bụng dưới. Điều này tạo sự thoải mái khi ngồi trong thời gian dài.
Cột sống dựng theo đường cong tự nhiên, ngực căng nhẹ đồng thời hai đầu vai mở rộng về phía sau.
Gáy thẳng tạo một sức kéo vừa đủ, kéo cằm thu về phía cổ họng. Tránh để căng cứng gáy trong lúc thực hành thiền.
Đỉnh đầu nằm ở vị trí cao nhất trên trục thẳng đứng của cơ thể.

Post has attachment
Chưa khỏi không tái phát Trào Ngươc Dạ Dày Thực Quản bằng khí công bấm huyệt, khỏi bệnh mới trả tiền .
Liên hệ : 0944908887 Lương Y Bùi Đức Thắng
http://buiducthang.com/
Photo

Post has attachment
Khỏi vĩnh viễn U xơ tử cung , U nang buồng trứng , không phẫu thuật , không dùng thuốc , không tác dụng phụ....với Khí Công Bấm Huyệt.
Sau 28 ngày chữa, bênh sẽ khỏi , Bệnh Nhân đi siêu âm lại đúng kết quả như vậy mới phải trả tiền !!!
Ngoài ra khác hàng còn được hướng dẫn những bài tập để chữa bệnh vô sinh nếu có và nâng cao sức khỏe!!!
Liên hệ :Số nhà 37 ,ngõ 29/70 Khương Hạ , Thanh Xuân ,Hà Nội
Đt : 0944908887 Lương y Bùi Đức Thắng
http://buiducthang.com/
Photo

Post has attachment
Chữa khỏi bệnh lồi, lệch đĩa đệm , đau thần kinh tọa , đau lưng khỏi mới lấy tiền.
Liên hệ 0944908887 Lương y Bùi Đức Thắng
http://buiducthang.com/
Photo

Các kiến thức cơ bản về hệ thống kinh mạch bí mật
1. Hệ thống kinh mạch bí mật không hiển thị dưới dạng thức vật chất thông thường. Hệ thống kinh mạch bí mật bao gồm các kinh mạch ngoại biên và kinh mạch trung ương. Trên kinh mạch trung ương có các trung tâm năng lực phân bố theo hệ thống.
2. Hệ thống kinh mạch bí mật không chỉ giới hạn trong cơ thể vật lý mà còn phân bố xung quanh cơ thể vật lý như một thực thể tâm linh giúp cấu tạo nên lớp vỏ phi vật lý (hào quang) của cơ thể vật lý.
3. Hệ thống kinh mạch bí mật sẽ được khai mở trong quá trình vận động và thao tác năng lực của hành giả. Như vậy dù muốn hay không hành giả bắt buộc có cảm nhận về hệ thống kinh mạch bí mật của bản thân. Điều này khiến cho hành giả có thể tự tri mà không cần bất cứ sự chi phối nào từ bên ngoài.
4. Mỗi lớp năng lực thấu thị của hành giả cho phép y nhận thức được các trình độ khác nhau của hệ thống kinh mạch bí mật.
5. Bình thường các kinh mạch bí mật ở dưới dạng cuộn xoắn hoặc uốn lượn như một đồ thị hình sin. Khi trình độ chi phối năng lực của hành giả tốt lên thì các kinh mạch bí mật chuyển sang dạng thẳng.
6. Nói năng lực chuyển hoá của hành giả tốt lên thực ra là năng lực chuyển hoá nghiệp quả tăng lên…Hệ thống kinh mạch bí mật luôn luôn khai mở ở trình độ phù hợp với năng lực tâm linh của hành giả.
7. Các trung tâm năng lực và hệ thống kinh mạch bí mật của mỗi người có những đặc trưng khác nhau. Mỗi tình trạng tâm lý, cảm xúc hay thể chất của mỗi người trong mỗi thời điểm sẽ khiến cho mỗi trung tâm năng lực cũng như toàn thể cơ thể năng lượng có đặc trưng khác nhau.
8. Các trung tâm và các kinh mạch bí mật có thể bị rách nát, tắc nghẽn hay rối tung. Các loại hình năng lượng vận động trong kinh mạch bí mật và trung tâm có thể không còn phù hợp về tần số và cách thức trao đổi năng lực. Ví dụ như các trung tâm không quay đều, có thể quay quá nhanh hoặc quá chậm.
9. Một cơ thể năng lượng không những được phản ánh qua hệ thống các trung tâm năng lượng, hệ thống kinh mạch bí mật mà còn thể hiện trong toàn bộ lớp hào quang của cơ thể. Một đánh giá chính xác về tình trạng cơ thể năng lượng cần dựa trên độ dày của lớp hào quang; độ mịn; sự giao động của các hạt năng lượng…
10. Khả năng thấu thị như thị bằng quán tâm mới giúp hành giả có nhận thức chân xác về hệ thống kinh mạch bí mật.
Trích GLTG Đoàn Hải An
Wait while more posts are being loaded